Mục lục

Sunday, July 26, 2026

Bashō ~ Bleached bones in a field

 
photo dtk@hdc.com 2025



野ざらしを
心に風の
しむ身かな

Nozarashi o
Kokoro ni kaze no
Shimu mi kana.

-- Matsuo Bashō (1644-1694)
Bleached bones in a field;
The wind pierces my body,
And it chills my heart.
https://wp.me/p6Tlhs-dV


thế là khăn gói lên đường
phơi thân sương gió dặm trường mênh mang


(dtk phỏng dịch)
*
*
*
26/07/2026, Tokyo
Ghi chú của bạn anh NHV:
「野ざらし紀行」là cuộc du hành lớn đầu tiên của Bashō, chỉ dài khoảng 8 tháng. Mục đích là để rèn luyện bản thân, thăm bạn bè, sáng tác, thăm các danh thắng và di tích văn học ở miền Đông Bắc Nhật Bản, hoàn thiện tư tưởng nghệ thuật và triết lý cho chuyến đi mà thành quả là cho ra đời tác phẩm này. Cũng như là làm nền tảng tư tưởng và triết lý cho những tác phẩm về sau trong chuyến đi cho ra đời tác phẩm lừng danh 「奥の細道」mấy năm sau.

Đây là bài haiku mở đầu tập du ký Nozarashi Kikō (『野ざらし紀行』)

野ざらしを (5)
心に風の (7)
しむ身かな (5)

Bài này được viết trước cuộc du hành. Năm 1684, Bashō rời Edo (nay là Tokyo) với tâm thế:

"Có thể ta sẽ chết bên đường."

Chính vì vậy ông mở đầu tập du ký bằng:

野ざらしを

("Mang trong lòng hình ảnh thân xác sẽ phơi nơi đồng nội...")

Qua chuyến đi này, Bashō bắt đầu hình thành quan niệm cuộc đời là một chuyến lữ hành, ngao du, phải bước đi giữa thiên nhiên để cảm nhận cuộc sống và cái đẹp nằm trong sự vô thường.

1. Dịch nghĩa

Lấy hình ảnh xác phơi ngoài đồng làm điều nghĩ trong lòng,
gió thấm vào tim,
thân này biết bao cảm khái.

1. Phân tích từng câu

2.1 野ざらしを

野ざらし(のざらし)

Thi thể hay xương khô bị bỏ mặc ngoài đồng, phơi nắng phơi mưa, không người chôn cất, ngó ngàng.

2.2 心に風のしむ

心にしむ: thấm vào lòng, xuyên thấu vào tận lòng. Ở đây 風が心にしむ không chỉ là "gió lạnh" mà là cái lạnh của chuyến lữ hành, cái lạnh của kiếp người.

2.3 身かな

Ở đây かな là 切れ字 mang sắc thái đậm ý cảm thán, chiêm nghiệm, than thở: "Ôi, thân này, thân ta...", và 身 không chỉ là cơ thể con người mà là chính bản thân ta. Nhưng かな ở đây không phải để than thân trách phận mình mà là để tập trung và cảm nhận thâm sâu và tự phản tỉnh một cách bình tĩnh

1. Ý nghĩa

Bashō mở đầu bài thơ bằng hình ảnh đập thẳng vào mắt vào của con người, nhấn mạnh ý niệm cuộc đời vô thường, đời người mong manh, chết chóc cô độc trong cuộc sống bấp bênh của 1 hành trình gian nan.
"Ta sẽ lên đường, có lẽ một ngày nào đó thân ta cũng sẽ chết nơi đất khách như những bộ xương kia nằm mưa dãi nắng ngoài đồng". Đây không phải là nỗi sợ chết, tránh cái chết, mà là một sự thật phải chấp nhận như một phần của cuộc hành trình, vẫn lên đường dù biết đầy dẫy cam go, gian khổ và hiểm nguy.
Bashō đã không nói: "Ta sợ, hay ta lo lắng" mà chỉ đưa ra ba hình ảnh bộ xương ngoài đồng, cơn gió lạnh và thân mình để người đọc tự nối kết ba hình ảnh ấy lại. Đây chính là nghệ thuật "nói ít mà gợi nhiều" của thơ haiku. Bài thơ chỉ có 17 âm tiết, nhưng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa:

野ざらし tượng trưng cho cái chết và sự vô thường, cho sự cam go, gian nan của cuộc đời biểu hiện qua những gì có thể xẩy ra trong cuộc hành trình của một lần đi hay là trong cuộc đời con người.

風 tượng trưng cho thiên nhiên, thời gian và số phận.

心にしむ diễn tả sự thấm sâu của cảm xúc, không phải chỉ là cái lạnh thể xác.

かな khép lại bài thơ bằng một tiếng cảm thán lặng lẽ, để dư âm còn vang trong lòng người đọc.

Bài thơ không chỉ là những cảm nghĩ những gì phải đối đầu và kết cục cho một chuyến đi, mà còn mở ra một thái độ sống: sẵn sàng dấn bước, chấp nhận và đối diện với khó khăn bằng sự bình thản.

Dịch thơ

Nghĩ xác phơi đồng nội,
Gió buốt tận tâm can
A, thân này lên đường.





----

ed. dtk@hdc.com 17/01/2025
rev. 26/07/2026 add ghi chú Tokyo




Thursday, July 23, 2026

tiếng ve kêu



hình mượn trên Internet


Năm đó, đi nghỉ hè ở miền nam nước Pháp, buổi trưa nằm võng nửa tỉnh nửa mơ, bên gốc cây sồi trong vườn, bỗng nổi râm ran tiếng ve sầu, không rõ từ đâu vọng lại, tưởng như rất gần mà cũng rất xa. Ngôi biệt thự nằm trong một khu rừng trồng đầy những cây thông lớn (pins parasols) và những cây sồi (chênes). Vườn nhà này tiếp theo nhà kia, không thấy ranh giới, chạy dài tới biển...

hình mượn trên Internet

.
.
静けさや
岩にしみ入る
蝉の声

Shizukesa ya
Iwa ni shimiiru
Semi no koe

Ah, such stillness—
The sound of a cicada
sinks into the rocks.

~ Matsuo Bashō 
Tùng Vĩ Ba Tiêu 松尾 芭蕉
(1644–1694)
.
.
.
ôi! tịch liêu
thấm sâu vào đá
tiếng ve kêu
.
(Từ Tokyo, 
bản dịch của một người bạn của anh NHV
ed. 22/07/2026)

====

(I) Ghi chú của NHV ở Taiwan:

Trong bài haiku:

閑さや(静けさや)
岩にしみ入る
蝉の声

chữ や là một 切れ字(きれじ, kireji – "từ ngắt" hoặc "chữ ngắt"), một đặc trưng quan trọng của thơ haiku.

1. Chức năng của 「や」

や không mang nghĩa từ vựng cụ thể như một trợ từ thông thường, mà có ba chức năng chính:

Ngắt nhịp (tạo một khoảng dừng trong cảm xúc và ý tưởng).

Nhấn mạnh từ đứng trước nó.

Gợi cảm xúc hoặc sự cảm thán, nhưng không nói trực tiếp cảm xúc là gì.

Vì vậy:

閑さや

không đơn thuần có nghĩa là "sự yên tĩnh", mà gần với:

"Ôi, sự tĩnh lặng!"

"Biết bao tĩnh lặng!"

"Một sự tĩnh lặng đến lạ..."

Sau tiếng や, người đọc như dừng lại một nhịp để cảm nhận sự tĩnh mịch, rồi mới chuyển sang hình ảnh:

岩にしみ入る蝉の声

"Tiếng ve thấm vào đá."

Chính khoảng lặng do や tạo ra khiến tiếng ve càng trở nên nổi bật.

1. Tại sao Bashō dùng 「や」 mà không dùng 「かな」?

Trong haiku có nhiều 切れ字, nổi tiếng nhất là:

や: ngắt và mở ra một không gian suy tưởng, khá trung tính.

かな: bộc lộ cảm xúc rõ ràng hơn (than thở, ngạc nhiên, cảm động).

けり: biểu thị sự nhận ra, phát hiện hoặc cảm khái sau khi nhận thức.

Nếu Bashō viết:

閑さかな

thì sắc thái sẽ là:

"Ôi, thật tĩnh lặng biết bao!"

Cảm xúc của tác giả lộ rõ hơn.

Còn:

閑さや

chỉ mở ra một khoảng không gian tĩnh mịch để người đọc tự cảm nhận. Đây chính là phong cách rất đặc trưng của Bashō: ít nói, nhiều gợi.

1. Vai trò trong cấu trúc bài thơ

Haiku này có nhịp 5–7–5:

閑さや (5)
岩にしみ入る (7)
蝉の声 (5)

や nằm ở cuối câu đầu (5 âm), tạo ra một khoảng ngắt (切れ) giữa:

Cảnh nền: "Sự tĩnh lặng..."

Hình ảnh chính: "Tiếng ve thấm vào đá."

Nhờ đó, bài thơ chia thành hai lớp:

Lớp tĩnh: sự im lặng tuyệt đối.

Lớp động: tiếng ve vang lên đến mức tưởng như thấm vào đá.

Điều thú vị là Bashō không nói "tiếng ve phá tan sự yên tĩnh". Ngược lại, tiếng ve lại làm cho người đọc cảm nhận sự tĩnh lặng sâu hơn. Chữ や chính là điểm chuyển giúp tạo nên hiệu quả nghệ thuật ấy, và vì thế được xem là một trong những ví dụ kinh điển về cách dùng 切れ字 trong thơ haiku.
*
*
*
(II) Ghi chú của người bạn ở Tokyo:

Bài haiku bạn nêu là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Matsuo Bashō.

Nguyên văn:

静けさや
岩にしみ入る
蝉の声

Tên tiếng Nhật mà người Nhật thường dùng để gọi bài thơ này là:

「閑さや」(しずかさや)

Lý do là:

Trong các tuyển tập hiện đại, câu đầu thường được viết là 静けさや (しずけさや).

Tuy nhiên, trong bản chép cổ và nhiều nghiên cứu văn học, chữ đầu là 閑さや (しずかさや), dùng chữ Hán 閑 mang nghĩa "tĩnh mịch, u tịch", sâu sắc hơn chữ 静 (yên tĩnh).

Theo thông lệ ở Nhật, thơ haiku không có nhan đề riêng, nên người ta gọi bài thơ bằng câu đầu (初句・発句). Vì vậy tên của bài thơ là:

閑さや(しずかさや) – cách gọi truyền thống.

静けさや(しずけさや) – cách viết hiện đại, phổ biến trong sách giáo khoa.

Ý nghĩa

閑さや(静けさや): Ôi, sự tĩnh lặng...

岩にしみ入る: thấm sâu vào đá.

蝉の声: tiếng ve.

Một bản dịch tiếng Việt sát nghĩa:

Ôi, tĩnh lặng!
Tiếng ve thấm sâu
Vào trong đá.


Đây được xem là một trong những bài haiku tiêu biểu nhất của Bashō, được sáng tác năm 1689 khi ông viếng Ryūshaku-ji (thường gọi là Yamadera) trong chuyến hành trình nổi tiếng được ghi lại trong Oku no Hosomichi.


*
*
*









Tuesday, July 21, 2026

Berthillon 3.0

 
Hình Internet



~ 2026
Không nhớ ai đã giới thiệu tôi đến nhà bán kem kỳ cựu này trên đường Saint-Louis-en-l'Île, Paris 4e. Lần đầu tiên đến đó, kể đã khá lâu rồi, cỡ 20 năm là ít, qua đi như mộng. Cái cửa tiệm đó, thoạt trông xinh xắn, nhưng không có gì ấn tượng. Chúng tôi xếp hàng như mọi người, già trẻ lớn bé, cả người bản xứ lẫn du khách bốn phương. Tôi lấy làm lạ, không hiểu có gì đặc biệt, mà thiên hạ đổ xô đến đông thế nhỉ. Lần đó ăn glaces gì, tôi không nhớ nữa, thấy ngon đấy, nhưng có gì ghê gớm lắm đâu. Vậy mà, ít lâu sau, đi ăn glaces ở bao nhiêu nơi khác, đến tận Venise, Florence, New York, London... bỗng nhớ nhung cái tiệm Berthillion khiêm nhường này, bên bờ sông Seine xanh rêu lờ lững. Mà nhớ cái gì cà? Không hẳn là hương vị cà rem tôi chọn, quanh quẩn cũng là vài parfums quen thuộc (vanille, café, chocolat, myrtille, abricot, citron...). Phải là một cái gì khác, rất mơ hồ. Từ đó tôi trở lại chỗ này, bao nhiêu lần rồi, và cả những tiệm nhỏ, chi nhánh hoặc tiệm phân phối hợp đồng với Nhà sản xuất Berthillon, ở khắp Paris và ở vài thành phố lớn tại Pháp.

~ 1968
Bao nhiêu kỷ niệm xưa đổ về như nước lũ. Trước khi tôi sang Pháp  du học, anh tôi, lính về phép 24 giờ mùa xuân Mậu Thân, dẫn tôi ra một tiệm kem đường Lê Lợi Sài Gòn, và được cho thưởng thức món kem nổi tiếng ở đây. Không hiểu sao, hai anh em không nói chuyện gì nhiều hôm đó. Buổi chiều, sau khi xem ở rạp Đại Nam, một cuốn phim Hồng-Kông vô cùng lãng mạn, chúng tôi về nhà ở quận Nhất, tấm lòng niên thiếu bỗng nhiên hoang vắng lạ thường. Đêm hôm đó, tiếng súng nổ rất gần. Cuối năm, tôi lên đường đi xa, biền biệt chưa về.

~ 1955
Hồi ấy gia đình tôi từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, ở trong một căn nhà sàn, tức là nhà gỗ cất sát một bờ sông. Xóm tên gọi là xóm Lò Bún, vì có gia đình người cùng làng với cha mẹ tôi ở Hà Đông, di cư vào Nam từ trước 1954, và lập nghiệp sản xuất bún ở đây. Nhà tôi ở cạnh nhà có hai người con gái trẻ, tuổi khoảng đôi mươi, lớn hơn tôi mười lăm mười sáu tuổi. Chúng tôi thỉnh thoảng nói chuyện với nhau qua vách ván chung. Đôi khi chiều muộn, trời mưa rả rích, hai chị em gọi chúng tôi vọng qua vách ván, hỏi có muốn ăn kem đậu xanh không. Hai chị em mỗi ngày đèo nhau trên một chiếc xe đạp, chở một thùng kem đi dạo bán khu Tân Định - Đa Kao. Những ngày mưa, bán ế, đem về cho chúng tôi ăn. Kem đậu xanh ăn ngọt ngọt bùi bùi, hột đậu chín nhưng không nát hẳn, trộn với nước đá bào mát lạnh, ăn thiệt là ngon. Tôi cứ ăn vô tư lự, bao nhiêu lần rồi, mà không biết hai người con gái nhà hàng xóm đang ủ rũ những ngày mưa gió sụt sùi.

~ 1954
Một kỷ niệm ngày thơ vút bay về trong trí nhớ. Hôm đó, mẹ tôi dẫn đi khám mắt ở một phòng bác sĩ nhãn khoa phố Quan Thánh Hà Nội (nhớ mang máng như thế, vì nhà chú Thụ nơi gia đình tôi đến ở tạm, để chuẩn bị di cư vào Nam, thuộc khu phố này). Ra khỏi phòng mạch, mẹ tôi dẫn đến một tiệm kem. Điều tôi thấy lạ lùng hết sức, là khi ăn kem xong, mẹ còn lấy cái dĩa (tôi tưởng chỉ dùng để đựng kem) cho ăn! Hương vị thơm tho mát lạnh, ~ với cái dĩa làm bằng bánh ~, tôi không bao giờ quên, mãi mãi về sau.




Wednesday, July 15, 2026

Khát nước


Mấy hôm nay khí trời hầm hập từ sa mạc Sahara Phi châu tràn lên phương Bắc. Trong nhà, quạt máy chạy vù vù, nhưng ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Nhà tôi, lại muốn vật lộn với mấy con ốc xên trong vườn, cằn nhằn vì tụi nó đã ngốn sạch hai cây dưa leo bio trồng hôm trước. Ruồi muỗi vo ve bay vào bếp lúc nấu ăn, bực cả mình. Chợt nhớ lại một tấm hình cũ, chụp trước một tiệm bán hàng lưu niệm Paris khu 13. 





Đó là một bình cắm nhang để xua đuổi ruồi muỗi mùa hè. Tiếc rằng hôm đó bà xã không mua về một cái, hôm nay chả biết làm sao. Riêng tôi, trên phòng viết sát nóc nhà, nóng quá, phải xuống phòng khách, mơ màng một ly cối (chope) bia lạnh xủi bọt uống ở Munich năm nào. "Ai xui con cuốc gọi vào hè, Cái nóng nung người nóng nóng ghê." 





Hình Internet



Nhớ tới những chai Coca Cola, hồi nhỏ còn ở Việt Nam, cha tôi thỉnh thoảng khui ra cho mọi người uống. Hơi gaz chích vào cuống họng, cơn khát tan biến trong khoảnh khắc. Bây giờ, vô tiệm McDonald's có bán, nhưng các nhà dinh dưỡng khuyên không nên uống, ~ vì chứa nhiều đường có hại cho sức khỏe. Còn những cách giải khát hiệu quả như là: ăn dưa hấu, uống nước chai Badoit (có gaz). Với điều kiện phải bỏ vô tủ lạnh giữ cho đủ lạnh trước khi dùng. Hiện tại đang ở siêu thị Tang Frères, trong khi chờ nhà tôi mua thức ăn thức uống dự trữ đến cuối tuần, tôi đi vòng vòng các gian hàng xem các thứ uống cho mùa hè. Kìa là những hộp nước dừa đủ loại. Lại thấy những hộp sương sa thạch đen yêu thích ngày xưa. Về những hộp nước dừa, chắc không thể nào bằng được những trái dừa tươi bán trên xe ba bánh trước nhà thờ Ngả Sáu, đối diện trường trung học Chu Văn An, năm cuối cùng ở Sài Gòn trước khi du học Pháp. 


Hình Internet



Buổi trưa nắng chang chang, đến xe ba bánh, hỏi mua 1 trái dừa tươi xanh mơn mởn, ông bán dừa cầm rựa chặt cuống dừa, khoét một lỗ to 5-6 cm đường kính, bỏ vào vài hạt muối, nạo sơ sơ vài lát cơm ruột dừa non, rồi đặt vào trong một ống nhựa và đưa cho tôi. Luồng nước dừa hút từ từ nhiều đợt vô cổ họng, mát rượi cả người. Ngay lúc này, không nhớ mình nuốt vào bụng mấy lát cơm ruột dừa non bằng cái gì nữa. Ông hàng dừa phải cho một cái thìa hay vật gì tương tự chứ?

"Thời gian tựa cánh chim bay,
qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?"

====
Cf. [Hoài cảm]
Tác giả: Cung Tiến
Trình bày: Lệ Thu

https://m.youtube.com/watch?v=NOpObFJwXk0


dtk@hdc.com 25/06/2026



[Phụ lục]
Bình cắm nhang bắt muỗi

@Gemini
​1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
​飛んで火に入る夏の虫
​(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
​2. Giải nghĩa tiếng Việt:
​Ý nghĩa đen:
​飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
​火 (Hi): lửa, ngọn lửa
​に (Ni): vào, hướng đến
​入る (Iru): đi vào, chui vào
​夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
​Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
​Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
​Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
​Nó ám chỉ:
​Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
​Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
Gemini
​1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
​飛んで火に入る夏の虫
​(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
​2. Giải nghĩa tiếng Việt:
​Ý nghĩa đen:
​飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
​火 (Hi): lửa, ngọn lửa
​に (Ni): vào, hướng đến
​入る (Iru): đi vào, chui vào
​夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
​Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
​Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
​Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
​Nó ám chỉ:
​Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
​Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.






khát nướ


photo 1yy
@@Gemini
​1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
​飛んで火に入る夏の虫
​(Tonde hi ni iru ntsu no mushi)
​2. Giải nghĩa tiếng Việt:
​Ý nghĩa đen:
​飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
​火 (Hi): lửa, ngọn lửa
​に (Ni): vào, hướng đến
​入る (Iru): đi vào, chui vào
​夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
​Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
​Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
​Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
​Nó ám chỉ:
​Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
​Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
Gemini
​1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
​飛んで火に入る夏の虫
​(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
​2. Giải nghĩa tiếng Việt:
​Ý nghĩa đen:
​飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
​火 (Hi): lửa, ngọn lửa
​に (Ni): vào, hướng đến
​入る (Iru): đi vào, chui vào
​夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
​Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
​Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
​Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
​Nó ám chỉ:
​Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
​Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.




Thursday, July 2, 2026

Alain-Fournier

 

Le livre unique d’Alain-Fournier, mort au front en 1914, à moins de 28 ans, figure dans la Pléiade. C'est une entrée inédite, car aucun auteur d'un seul livre n'avait eu droit à une publication dans cette prestigieuse collection, réputée pour publier les œuvres complètes (ou quasi complètes) des écrivains du patrimoine littéraire mondial. Devenu à jamais l'auteur d'un livre unique publié en 1913, qui a, cette année-là, manqué le Goncourt d'une seule voix. Ce roman totalisait à la fin du siècle dernier plus de quatre millions d’exemplaires vendus.

Ce chef-d'oeuvre intemporel, roman d'amour troublant, demeure l'un des livres français les plus lus au monde. Il est l'œuvre littéraire française la plus traduite et lue dans le monde juste après « Le Petit Prince » de Saint-Exupéry. 

À 18 ans (en 1905), Alain-Fournier croise par hasard Yvonne de Quiévrecourt, jeune femme « blonde, élégante, élancée » et en tombe éperdument amoureux. Il la reverra brièvement huit ans plus tard en 1913 (elle est désormais mariée et à deux enfants). Il lui avoue son amour malheureux et ose lui remettre une lettre (non envoyée) qu'il lui avait écrite.

« Un long roman que j'achève et qui tourne tout autour de vous, de vous que j'ai si peu connue, paraîtra cet hiver », lui annonce-t-il. « Les plus beaux jours de ma vie sont ceux où j'ai pensé le plus ardemment à vous ».

Qu'a-t-elle pensé du roman ? Nul ne le saura jamais. Yvonne de Quièvrecourt a disparu à 79 ans en 1964, sans jamais s'exprimer.


Tham khảo

#alainfournier #LeGrandMeaulnes #lapléiade