Saturday, March 4, 2023

hai con ma ở Củ Chi


Cha tôi ở nhà cấm kể chuyện ma, vì ông vốn tin vào khoa học và cho đó là những chuyện hoang đường. Tuy vậy, tôi cũng được nghe nhiều chuyện ma li kì dễ sợ. Có điều, trong những chuyện đó, người kể chuyện đều nói đã nghe người khác kể lại, chứ không ai nói chính mình đã thấy ma tận mắt bao giờ.

Hồi đó, nhà tôi ở gần một khu biệt thự, ban ngày tôi vẫn thích đi qua những ngôi nhà khang trang, vườn rộng xanh um, tĩnh mịch. Nhưng tối đến, thì không dám qua khu đó bao giờ, dù khi có việc cần, thà phải đi đường vòng thật xa. Nhất là chỗ một góc đường, có cái cây cổ thụ, như một loại cây đa, rễ lộ thiên mọc lòng thòng như những cánh tay dài đen đủi, chỉ sẵn sàng chụp lấy cổ mình mà rút lên cao. Nguyên do là mấy đứa bạn học kể cho nghe câu chuyện ma ở đây. Có một người đàn bà trong xóm, bị chồng ruồng bỏ, đau buồn quá, một đêm ra đây tự treo cổ chết. Tụi nó kể vào những đêm trăng sáng, người ta nhìn thấy trên một cành cao, bóng một người đàn bà áo trắng giăng võng, ôm trong lòng một đứa con, ru qua ru lại và hát mãi một câu ca dao: "Ầu ơ ... Gió đưa bụi chuối sau hè, Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ."

Sau này, vào một mùa hè ở Pháp, tôi có dịp đến Caen thăm bạn bè cùng đi du học một lượt với nhau. Buổi khuya hôm đó, không hiểu lí do nào, lại có người đem kể chuyện ma. Chỗ chúng tôi ở đó là một cư xá sinh viên. Cách đó khoảng một năm, có một người nữ sinh viên thất tình gì đó, thắt cổ chết trong một phòng tắm ở đây. Tôi lúc đó đã lớn rồi, đâu còn sợ ma, vậy mà tối hôm đó, ngó qua cửa sổ thấy trời âm u, nghe tiếng cây kẽo kẹt ngoài vườn, cũng không khỏi rợn mình nổi gai ốc. Đường về phòng trọ ngang qua một nghĩa địa. Lần đó, tôi phải rủ hai ba người cùng đi cho đỡ sợ.

Nhà tôi sanh quán ở Tân Phú Trung, gần địa đạo Củ Chi. Nhà tôi nhát ma lắm. Có lần kể cho tôi nghe chuyện này. Hồi đó, Là (tên vợ tôi) sắp thi bằng Tiểu học. Trường học ở Lái Thiêu, hôm đó các bà sơ (sœurs) lo lập hồ sơ dự thi, mới biết Là chưa có giấy khai sanh. Chiều hôm đó, Là phải lấy xe đò về nhà gấp để lo giấy tờ cho kịp thời hạn. Về đến đầu làng, thì trời đã nhá nhem tối, mà đường về nhà phải qua mấy gò mả. Là sợ lắm, nhưng vì việc quan trọng và nhờ quen lối, nên bặm gan đi. Hai mắt nhắm hí hí, hai tay nắm chặt, mỗi ngón cái giấu trong lòng bàn tay — cho khỏi bị ma dẫn đi, Là xăm xăm theo con đường đất về nhà. "Bình!" một cái, Là sợ điếng cả người, chưa kịp hoàn hồn, đã có tiếng quát to: "Đứa nào đi đâu giờ này tối thui?". Lúc đó, Là mừng tưởng đứng cả tim, vì vừa nhận ra giọng nói quen thuộc của bác Hai. "Dạ, con Là đây". "Trời ơi! Con Là. Chút xíu nữa là tao tưởng là ma." 

Hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, tôi theo Là về thăm quê ngoại. Đó là con đường đất đỏ, trông cũng tạm sạch sẽ. Tôi không còn thấy những bụi tre xanh um tùm mọc hai bên đường nữa. Nhìn ra bên cạnh, vẫn còn dấu vết một vài bia mộ, cạnh có nhang đỏ cắm trên những chén sứ màu xanh và trắng. Nhưng hoàn toàn không còn đâu những vết tích của một cuộc chiến tranh dằng dặc.

Đó là lần đầu tiên và cho đến bây giờ vẫn là lần duy nhất, có người kể cho tôi nghe đã thấy ma tận mắt mình, giữa thanh thiên bạch nhật.

Lạ thật, lần nào cũng vậy, đang nói chuyện trên trời dưới biển, thế rồi có ai nhắc tới một cái gì đó, thế là có người xoay qua kể chuyện ma. Lần này là ông dượng Năm của Là, kể chuyện cho tôi nghe. Đó là vào thời kì cuối, chiến tranh trở nên khốc liệt. Trong làng, có một chú không nhà, người trong làng coi như một kẻ ăn mày đầu đường xó chợ, một hôm đến từng nhà nằn nì nói với mọi người mau mau di tản, vì chú biết đêm đó sẽ đụng độ lớn. Chú nói chắc như đinh đóng cột, bởi vì chú mỗi ngày đi lang thang từ đầu làng tới cuối làng, từ bìa quận tới cuối bưng, chú biết rõ những gì hai phe quân  thù địch đang chuẩn bị. Sống quen với bom đạn từ mấy chục năm qua, gần như chẳng ai chú ý đến lời chú nói. Đêm hôm đó, súng đạn điên cuồng. Sáng ra, không biết bao nhiêu là xương thịt tan tành. Xác người nát bấy ngập đường đất, bờ giậu, máu chảy tràn những con rạch trong làng, cuốn theo những bông hoa bụt màu đỏ thắm. 

image Internet
Nhiều tháng sau, dượng Năm kể, bữa đó, ngay giờ Ngọ, dượng đang nằm võng ngó ra đường. Bỗng thấy xa xa có bóng hai người áo trận, dựa vai nhau đi mà gần như muốn té từng bước chân. Dượng Năm nhổm mình lên nhìn kĩ, rõ ràng là một người lính áo vàng và một người lính áo xanh khoác tay nhau đi, từng mảng máu nhuộm đẫm vạt áo, ống quần. Hiện ra, biến mất. Hai ba lần như vậy. Hiện tượng xảy ra y hệt nhiều ngày sau.

Ngay lúc kể chuyện, vào khoảng mười hai giờ trưa, dượng Năm cũng đang nằm trên võng. Tôi ngó ra con đường đất bụi đỏ trước sân nhà, bỗng thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc theo xương sống. Hai bóng người áo đen vừa xuất hiện từ xa. Tôi cố trấn tĩnh, hóa ra đó chỉ là hai người dân làng tình cờ đi ngang. Lúc đó, thực ra tôi không mấy sợ, nhưng một niềm hoang vắng xâm chiếm cả tâm hồn. Giọng nói của dượng Năm, người nông phu chất phác gần như cả đời sống với chiến tranh, chỉ mong một ngày được yên ấm làm ăn, kể nghe đều đều. Ba mươi năm về trước, thầy Hai Chích, làm nghề y tá trong làng, mê người chị dâu của dượng Năm, nhưng không được đáp ứng, đem cáo gian dượng là Việt Cộng. Dượng Năm vào tù, bị tra tấn dã man. Sau nhờ chị dâu lo lót, vả lại dượng cũng chẳng biết gì để khai, nên được thả về. Sau 1975, cả nước sống dưới chế độ Cộng Sản, gia đình dượng Năm chỉ sống nhờ vào những thửa ruộng mà chị Tư (má của Là) để lại Việt Nam, khi theo chồng về Pháp từ nhiều năm trước đó. Ấy thế mà cũng chẳng yên thân, xã trưởng hoặc công an trong làng, biết gia đình dượng Năm nhận tiền giúp đỡ từ ngoại quốc, vẫn thường xuyên đến nhà, kiếm chuyện mõi tiền, đánh thuế...

Không biết cô hồn của hai người lính chết tức tưởi sẽ còn vất vưởng tới bao giờ?





Đặng Thế Kiệt
01.08.2005








Friday, March 3, 2023

mực, mực ô!


Người hướng dẫn Thái Lan giới thiệu trái sầu riêng cho đoàn du khách, nói nó có mùi fromage. Đây là những du khách đến từ Pháp, nên ai cũng hiểu ngay. Đề tài sầu riêng có vẻ hấp dẫn, mọi người đều tò mò muốn có dịp đi xem chợ Bangkok để biết thêm. Nói chuyện nhẩn nha với bà đầm ngồi ghế xe bên cạnh, bỗng xoay qua chuyện ăn thịt chó. Lạ lắm, đề tài thịt chó này bao giờ cũng lôi cuốn khá nhiều. Đại khái, người Âu Mĩ có thành kiến coi sự ăn thịt chó có phần dã man. Tôi không biết tục ăn thịt chó ở Việt Nam có từ bao giờ, song có lần đọc báo biết các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết xương chó trong bữa ăn người Gaulois ở Bretagne từ những thế kỉ xa xưa.

Bố mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, nhưng gia đình không ăn thịt chó. Tuy nhiên, mẹ tôi đã nấu cho ăn một hai lần món giả cầy, tức là cách nấu giò heo với củ riềng theo lối làm thịt chó. Bây giờ, mấy chục năm sau, tôi còn nhớ mùi béo ngậy thơm ngon.
Tới khi du học sang Pháp, bạn bè tán gẫu với nhau, cũng không tránh khỏi đề tài ăn thịt chó. Hình như tôi chưa gặp ai thú nhận mình đã ăn thịt cầy bao giờ. Có một anh bạn người ở Nha Trang kể rằng có biết một thằng bạn chỉ ăn thịt chó có một lần, sau đi đâu cũng bị chó sủa. Anh bạn còn kể chuyện một sinh viên sang Vatican Ý Đại Lợi tu học làm linh mục, có lần đứng góc đường, trông thấy một con chó đi ngang, bỗng thèm rỏ dãi. Chuyện về ăn thịt chó này của bà xã tôi có lẽ thú vị hơn cả.

Hồi lên năm sáu tuổi, nhà tôi ở với bà dì, xã Tân Phú Trung, cách Củ Chi khoảng mười cây số. Bà dì mắn con, đẻ năm một, nhà tôi giữ việc bồng em, đưa võng cho chúng nó ngủ. Trong nhà có nuôi một con chó mực. Mỗi lần có đứa em nào ỉa ra nền đất, dì Năm đứng kêu to: "Mực, Mực ô!". Thế là con chó mực ở đâu chạy lại, ăn hết cục cứt vàng, rồi còn le lưỡi liếm đít đứa bé một cái cho sạch. Sau con chó mực già yếu, bộ lông đen mướt trở thành xơ xác, nó chỉ còn biết nằm phơi nắng trên sân, lấy lưỡi liếm mụn ghẻ lở ngoài da. Dì Năm thấy nó tội nghiệp, bèn kêu một bà trong xóm di cư gần nhà lại, đem cho con mực. Bà di cư mặt mày tươi rói.

Không biết hôm đó, con chó mực già kết liễu đời mình trên một mâm cơm thịnh soạn hay trên quầy bán thịt trong làng.




ghi chú:
bài này trích từ blog "tiếng Việt"
http://tieng-viet-dtk.blogspot.com/2012/09/muc-muc-o.html