Tuesday, June 5, 2018

Paris lang thang



1. Ile Saint-Louis

Dưới cầu sông chảy
Trên trời mây bay
Ai về có nhớ
Thuyền nắng ngủ say


photo @dtk 2005












2. boulevard du Palais (đường Nguyễn Du)

Trưa đi bát phố
Đường êm ái này
Tưởng về lối cũ
Có lá me bay

3. boulevard Saint-Michel

Xưa tôi với bạn
Mỗi tối đi hoang
Lòng trai trống vắng
Vì thiếu cô nàng

4. Notre-Dame

Nhà thờ Đức Bà
Con tim ấp ủ
Dù đã quá xa
Mối tình rất cũ


photo @dtk 2018











5. Hàn Lâm viện

Qua viện Hàn Lâm
Học sĩ cao thâm
Ngày hè nắng ấm
Cùng mây thì thầm

6. Musée du Louvre

Mây trắng bay qua
Từ bao thế kỷ
Monna Lisa
Đâu rồi họa sĩ

photo @dtk 2005


 








7. Panthéon

Vĩ nhân nước Pháp
Tên tuổi ghi đây
Còn ta lơ đãng
Mắt ngó mây bay


photo @dtk 2018


 








8.  vườn Tuileries

Theo mây lang thang
Nắng hạ chói chang
Qua vườn bóng mát
Người ơi địa đàng


photo @dtk 2005









ed 01 
2005, tháng 7

ghi chú 03/03/2023:
vừa tìm lại được trên http://forum.siliconband.fr
ngày viết mấy bài con cóc ở trên: 27.07.2005












Thursday, April 26, 2018

la cause du peuple


Nhà nghiên cứu lịch sử Thierry Wolton (người Pháp) vừa xuất bản bộ sách 3 quyển Une histoire mondiale du communisme (Grasset, 1180 p., 39 €).

Tạp chí Le Point số 2381, ra ngày 19 avril 2018, có bài phỏng vấn tác giả Thierry Wolton, nhan đề: 50 millions de morts, et tous "complices" ? (tạm dịch: 50 triệu người chết, và tất cả đều là "đồng lõa"?).

"Complices" cũng là nhan đề quyển thứ ba trong bộ sách nói trên, xuất bản năm nay (2018), được trao giải thưởng văn chương "Ngày nay" (prix Aujourd'hui).
 

Tấm hình in đầu bài báo đập ngay vào mắt:

Cặp Sartre-Beauvoir bán báo "La Cause du peuple"
trên đường phố Paris, năm 1970
Vụt nhớ lại kỉ niệm gần 50 năm về trước, khi vừa chân ướt chân ráo tới Pháp.

Hôm đó, bước xuống chiếc xe car (du lịch vùng Bretagne-Normandie, do bộ
Văn hóa Giáo dục Pháp tổ chức), tôi ngạc nhiên  thấy một anh bạn sang du học cùng năm (même promotion) với tôi, tay ôm chồng báo, miệng rao không ngớt: "La Cause du peuple ! S'il vous plaît ! Achetez La Cause du peuple !"

Dáng điệu y hệt như tấm hình trên đây, với triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre đang bán báo trên đường phố Paris.
 

Nhiều khi tôi nghĩ rằng tai họa giáng xuống quê hương chỉ là tại những tên khờ có ích (idiots utiles) như những Jean-Paul Sartre (1) kia thôi.

Thierry Wolton xác nhận rằng nước Pháp vốn là "vô địch thế giới" về "tính đồng lõa" với ý thức hệ Cộng Sản ("pays champion toutes catégories en matière de complicité avec les communistes").

Bao nhiêu những nhà trí thức (Jean-Paul Sartre...), báo chí (Le Monde...), kí giả (Jean Lacouture...), nghiệp đoàn thợ thuyền (CGT...), tổ chức sinh viên, nhà giáo..., trong suốt nửa sau thế kỉ XX, đua nhau tranh đấu chống "đế quốc Mĩ", biểu tình phản chiến..., đồng thời vẫn tuyên truyền hỗ trợ cho Mặt Trận Giải Phóng xâm chiếm Miền Nam Việt Nam ("Front National de Libération vaincra").

Mặc bao sự thật "trắng trợn" về "thiên đường Cộng Sản" (Printemps de Prague, goulags,  sự sụp đổ của Liên Xô và ở Đông Âu, biến cố Thiên An Môn ở Bắc Kinh...), người ta vẫn tiếp tục hoan hô đả đảo một chiều theo tư tưởng Mác-Lê.

Trong một bối cảnh như vậy, nghĩ cho cùng, những hành vi cư xử của bạn tôi ở trên có lẽ cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Mà họ đông lắm, chín phần mười bạn bè tôi bên Pháp này đều chạy theo nhau xuống vực như những con cừu của Panurge ngày xưa (François Rabelais).

Có thể nào ngờ, ngay sau biến cố 30 tháng Tư 1975, những người ấy từ miền Nam (Việt Nam cũ) sang Pháp, bỗng đua nhau dán lên tường phòng khách trong nhà bích chương to tướng chân dung Hồ Chí Minh.

Rồi họ (bây giờ đã trở thành những giáo sư, kĩ sư, bác sĩ, dược sĩ...) tấp nập đi hội họp ở Paris cho những chương trình chính trị kinh tế hấp dẫn (do Nhà nước Hà Nội giựt dây) kiểu "Chân trời 80", "Chân trời 90"...

Thierry Wolton nói: Lí thuyết cộng sản theo ý thức hệ mác-lênin nay đã chết.

Trong khoảng hơn mười năm cuối thế kỉ XX, chế độ Liên Xô đã sụp đổ hoàn toàn. Các nước Đông Âu, lệ thuộc khối Liên Xô cũ, cũng đã chuyển sang thể chế dân chủ.

Trung Quốc Lục Địa (và đàn em của họ: Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa) bây giờ đã biến thái thành những thể chế độc tài độc đảng phát triển theo khuynh hướng kinh tế thị trường, nhưng vẫn nằm trong vòng kiểm soát của Nhà nước đặc quyền đặc lợi.

Một số những tên khờ có ích (cho Nhà nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, chẳng hạn) hình như cũng sáng mắt ra một chút...




Chú thích

(1) Le Point, 2019-08-29: Sartre… « Grand écrivain, philosophe moyen, politique nul »  (Edgar Morin
Tạm dịch: 
(Jean-Paul) Sartre... "Nhà văn cỡ lớn, triết gia bậc thường, chính trị gia hạng bét." (Edgar Morin).






Phụ lục


2018/04/28 md@huediepchi.com (Seattle, USA)

Xin mạn phép chị md@huediepchi.com đăng lại dưới đây bài viết của chị nhân ngày 30 tháng Tư 2018

Nhớ Nhớ Gì...


Saturday, April 28, 2018 11:08:59 PM

Hôm nay là ngày 28 tháng 4 ở VN, ngày này 36 năm trước, md@hdc mặc cái áo bà ba nâu, quần đen, chân đi dép nhựa, nón lá, tay cầm cái túi lác lên đường...

Ăn mặc cho thành gái quê cũng không giống quê vì cái mặt md@hdc tí tửng (sắp được giải thoát) và sáng láng quá. Đó là do sự cố vấn của ông Anh để md@hdc hoà đồng cùng các cô vùng "muỗi kêu mà như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh".

Đến Rạch Giá được một anh chàng cũng trạc tuổi md@hdc đón về cư xá ngủ đế sáng mai, ra bến đò đi về miệt thứ. Tối đó anh chàng dẫn đường đưa md@hdc ra phố đi dạo ra vẻ như có bạn gái từ Sài Gòn về thăm. He mắng md@hdc là ăn mặc không giống ai, vì cái mặt rặt tỉnh thành, mà... con gái quê cũng không ăn mặc dị hợm... quê như vậy.

Sáng hôm sau ở bến đò Rạch Giá, được ăn một bữa cơm toàn những món nhìn rất quen, mà trước đó md@hdc chưa ăn bao giờ. Canh khổ qua nhồi thịt và dưa rau muống. Thật là ngon miệng. Sau đó md@hdc được đưa bằng xuồng "tắc ráng" về Thứ 6.

Nằm dưới đống lưới cá hôi hám và lỉnh kỉnh đồ đạc từ trưa đến đêm tối mới về tới gần chỗ đổ quân. Lúc leo lên bờ thì cái đầu vẫn cứ lắc lư chòng chành chân thấp chân cao bước đại chứ không định vị được mặt đất.

Tối đó md@hdc trốn trong vựa lúa ở một góc nhà. Muỗi bu chích quá trời vậy mà chủ nhà khách khứa 2,3 lượt. Ngứa không được gãi thật khổ, lúc đó mới thấy được ý nghĩa của câu thành ngữ “gãi đúng chỗ ngứa”.

Đúng như quẻ xâm md@hdc lấy được hôm tết “đất khách ngộ cố tri”. Đi lần đó là md@hdc thoát. Đến Thái Lan thì gặp cả tá cố tri biết danh nhau từ trường Đại học Bách khoa.

Sau này qua Mỹ định cư, đi học rồi đi làm đã mấy năm rồi, mà lâu lâu cơn ác mộng đang tìm đường vượt biên vẫn trở lại ám ảnh trong giấc ngủ.
 

On Sun, Apr 29, 2018, 04:30 md@hdc

Chuyện thật về chuyến đi của md@hdc đó (...). Chính xác thì lúc mua vé xe đò đi Rạch Giá, md@hdc còn bị một bà bán vé chợ đen truy hô là đi vượt biên mà còn trả giá, đòi gọi công an. md@hdc nói lại bả là buôn bán lậu mà đòi đi gặp công an. Lúc đó công an chẳng có cớ gì để bắt md@hdc... nên bả không sợ công an thì thôi chứ md@hdc mắc gì mà sợ bả. Sống ở VN thời đó ngoài mưu mô, trí trá người ta còn phải chà đạp lên nhau để dành phần, không phải chỉ riêng những kẻ có quyền hành. Mà còn lắm kẻ bần cùng sinh đạo tặc nữa. Thật tuyệt vọng.

Mỗi lần đọc ba cái bài viết kiểu "quê hương đổi mới rồi, bạn phải làm gì cho quê mẹ" thì chuyện cũ lại tràn về.
md@hdc không cần tiền thêm, cũng chẳng cần danh. Không nhậu nhẹt bốc phét, chui vào rọ để làm gì cho khổ. Những đóng góp để change the world thì md@hdc đã làm xong rồi, giờ thì chỉ làm những chuyện vụn vặt cho vui qua ngày tháng mà thôi.


***


2020/06/15 mt@hdc.com (Köln, Deutschland)

from: mt@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 16:43
subject: Re: bóng ngày qua: la cause du peuple

Thời gian trôi đi nhanh thật. Ngày đó gia đình M.T. được tàu Cap Anamur I vớt.


Tàu gia đình M.T. đi có 213 người. Sau đó ở 2 tháng tại Singapur rồi 6 tháng ở đảo Galang (Indonesia).
Cuối cùng đến Jakarta, ở 1 tuần để làm thủ tục qua Đức.
(...)

from: d-tk@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 16:56

Hình tàu "Cap Anamur I" có gia đình anh M.T. trên đó không?
Năm đó, chính xác là năm nào?

from: mt@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 17:46

Chiếc tàu đánh cá đó có gia đình M.T. 
Lúc rời bến, tài công đòi thêm tiền, không cho thêm, nó bỏ lên bờ không lái tàu. Nên ba M.T. lái tàu một mình ra khỏi Việt Nam, — mặc dù ba M.T. là bác sĩ quân y thời Việt Nam Cộng Hòa.
Đi được 3 ngày, bị bão lớn, máy bơm nước bị hư, nhưng nhờ Cap Anamur thấy và tới cứu (09.03.1980).
Hình chiếc tàu (Cf. ở trên) do nhân viên Cap Anamur chụp để làm tài liệu. M.T. ngồi trên nóc chiếc tàu trước khi tàu cặp vào Cap Anamur.
Port de lumière là tiền thân của Cap Anamur. 
(Gia đình M.T.) tổ chức vượt biên hơn 3 năm rồi mới thành công rời Việt Nam.






Monday, April 16, 2018

anh cho em mùa xuân...


Hình icon lịch trên máy hiện rõ hai chữ tháng Tư! Nhưng mùa xuân năm nay ưởng ưởng không muốn về.

Qua vườn Bách Thảo (Jardin des Plantes) xem mấy cây anh đào Nhật bắt đầu nở rộ. Ở nước Pháp này, không có hội hoa anh đào như bên Nhật. Nhìn người ta thong dong qua lại trong vườn, đứng lại ngắm nghía, chụp hình... những cây anh đào đầy hoa, thấy mình lạc chốn Bồng Lai.

photo @dtk 2018


Trong lòng bỗng nhói lên một cái. Có phải vì mấy câu chuyện kể trong tờ báo Xuân 2018 Bưởi-Chu Văn An (California, USA)?  

50 năm rồi! mùa xuân ấy!

Đọc bài của một bác sĩ quân y kể lại những ngày tù cải tạo, những câu văn dí dỏm, những cảnh ngộ oái oăm... Không thể nói "cười ra nước mắt". Dân ta gặp phải một lũ quỷ điên.

Có thể nào ngờ, trong cùng một ngày — khoảng thời gian ấy, tôi ngồi đọc cuốn sách "Đại Thắng Mùa Xuân"!

Nhớ lại bài hát "Mùa Xuân Đầu Tiên" (1976)...

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu...


Có ai biết là mùa xuân nào, hở nhạc sĩ Văn Cao?


Ngày xưa...


(còn tiếp)



2020/05/17 ed.

Hôm nay tìm được câu trả lời của nhạc sĩ Văn Cao (cf. FaceBook Từ Thức TT GROUP)
Lời tâm sự của ông còn hơn vạn lời dối trá, mị dân vẫn thường nhai nhải suốt 75 năm nay. Hãy mở to mắt, tim đừng run, trí phải lạnh... để nhận ra tất cả đằng sau số phận một bài hát, số phận hẩm hiu của 1 dân tộc.
"..Hồi nhận viết Tiến Quân Ca tôi không hề chuẩn bị trước để làm một bài hát mà một nhiệm vụ nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viên biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu súng vào một thành phố để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh và căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy. Thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng và chỉ viết nhạc không lời."
Văn Cao







Phụ lục

Kim Tuấn
Anh Cho Em Mùa Xuân - nhạc Nguyễn Hiền - Duy Quang hát
 


Nụ Hoa Vàng Cho Em

anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây

anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
thơ còn thương cõi đời
con chim mừng ríu rít
vui khói chiều chơi vơi

đất mẹ gầy cỏ lúa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mỏ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa
tóc mẹ gìa mây bạc
trăng chờ sau liếp dừa
con sông dài mấy nhánh
cát trắng bờ quê xưa...

anh cho em mùa xuân
bàn tay thơm sữa ngọt
dải đất hiền chim hót
người yêu nhau trọn đời
mái nhà ai mới lợp
trẻ đùa vui nơi nơi
hết buồn mưa phố nhỏ
hẹn cho nhau cuộc đời
khi hoa vàng sắp nở
trời sắp sang mùa xuân
anh cho em tất cả
tình yêu non nước này
bài thơ còn xao xuyến
nắng vàng trên ngọn cây...
http://vietnamtudien.org/thophonhac/nuhoavg_kt.html
















Saturday, August 5, 2017

mất quê hương



Hôm đó, vợ chồng tôi đang ngồi trong quán ăn Au Vieux Saigon, avenue d'Ivry quận 13 Paris. Chợt có một cặp già nhỏ nhắn lại ngay bàn bên cạnh. Nhà tôi bỗng nhìn đăm đăm người đàn bà lớn tuổi, rồi ngập ngừng nói: — Dạ, có phải là chị Thu Tâm không ạ?

Người đàn bà khựng lại nhìn nhà tôi, và rồi tỏ vẻ nhận ra nhau.

Từ nhiều năm qua, nhà tôi hay nhắc đến những kỉ niệm thời học trò ở Saigon. Vào những năm cuối trung học đệ nhất cấp ở trường Regina Pacis, ở trọ nhà cô bạn con gái nhạc sĩ Bửu Lộc, nổi tiếng trên Đài Phát Thanh Saigon. Và nhờ đó quen biết ca sĩ Thu Tâm. Chị Thu Tâm thỉnh thoảng làm ca sĩ trong những buổi tối ca nhạc tổ chức tại nhà riêng của nhà đàn tranh Bửu Lộc, trong một ngõ hẻm trên đường Phan Thanh Giản. Khách tham dự thường là mấy tướng tá người Huế.

Người đi kèm chị Thu Tâm trong tiệm ăn hôm đó lại chính là Lê Văn Hảo.


Mấy hôm sau, cặp Thu Tâm - Lê Văn Hảo nhận lời đến thăm chúng tôi. Vào nhà tay bắt mặt mừng. Một cách rất tự nhiên, bốn người xếp thành hai cặp nói chuyện với nhau: chị Thu Tâm và nhà tôi tạo thành một cặp, Lê Văn Hảo và tôi thành cặp thứ hai.

Hai người đàn bà huyên thiên nói gì với nhau, sau lần gặp mặt đó nhà tôi mới kể lại một phần cho tôi biết. Riêng cặp Lê Văn Hảo và tôi, thì Lê Văn Hảo nói nhiều hơn và tôi gần như chỉ lắng nghe.

Không ai bảo ai, đề tài nói chuyện xoay quanh "trường hợp Lê Văn Hảo" trong vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế. Tôi chỉ đọc lần đầu tiên đến cái tên Lê Văn Hảo, trong cuốn tiểu thuyết hồi kí Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca. Lê Văn Hảo lặp lại nhiều lần: "Họ đã bombardé tôi vào chức đó, chứ nào tôi có muốn làm."

Cái chức vụ mà Lê Văn Hảo nói đến ở đây, chính là chức "Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế" khi quân cộng sản Bắc Việt tấn công Huế năm Mậu Thân 1968. Lê Văn Hảo trầm giọng kể cho tôi nghe kỉ niệm xưa. Hồi đó, quân đội Pháp cưỡng chiếm nhà cha mẹ ông làm tổng hành dinh.

Thế mà ông lại say mê cô con gái của viên sĩ quan trưởng đóng tại nhà.

Rồi một đêm, người mẹ của Lê Văn Hảo nhảy xuống giếng trong vườn. Để lại mấy lời trăn trối: Mẹ đau quá con ơi, đau không chịu nổi... Ông Lê Văn Hảo nói mẹ ông bị bệnh ung thư tử cung. Ông ấy còn nhắc lại lời mẹ bắt ông phải hứa không bao giờ lấy đầm làm vợ. Vừa kể ông ấy vừa rơm rớm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng.

Thế rồi câu chuyện chuyển sang thời kì Lê Văn Hảo được đưa về Bắc. Cả mười năm trời, không phải làm gì hết, lại được nuôi cho đi thăm viếng khắp các miền non nước.

Ông ấy đem một tập giấy hơn hai chục trang chụp photocopie từ những bài đăng trên báo Thông Luận ở Paris khoảng năm 2007, cùng với lời viết tay nắn nót trên bìa cứng: 


Lê Văn Hảo
Tiến sĩ Dân tộc học, nguyên hội viên Société Asiatique de Paris
MẤY NÉT VIỆT NAM ĐẸP TƯƠI MUÔN THUỞ
Bản riêng tặng cô R. & anh K.
L.V.H. và Thu Tâm
Mùa Xuân tháng 3/2009

Hôm đó, Lê Văn Hảo nói ước vọng của ông hoàn thành tác phẩm, dày khoảng 800 trang.

Chỉ cần đọc nhan đề 13 bài viết trên đây là đủ nhớ da diết quê hương nghìn dặm:




Bản đồ Việt Nam
Mũi Cà Mau
Chòm Lũng Cú
Ao Bà Om
Hương Sơn - Chùa Hương
Hòn Non Nước
Nha Trang
Đà Lạt
Vũng Tàu
Yên Tử
Vườn Chim, Sân Chim, Tràm Chim
Lời cảm ơn của tác giả
Cùng một tác giả (danh mục tác phẩm)

Tôi đã đọc mấy bài này, rất thú vị. Lời văn trong sáng, đượm tình yêu nước non dân tộc.

Không nhớ trong hoàn cảnh nào, chúng tôi bốn người đứng trong sân siêu thị Thanh Bình Jeunes ở gần Porte de Choisy. Siêu thị này là của một người trong nước làm chủ. Theo một người bạn học cùng trường xưa ở Việt Nam, người chủ này là họ hàng với tiệm Thanh Bình kì cựu ở Place Maubert Paris từ mấy chục năm về trước. Trước 1975, hầu như dân Việt cả nước Pháp và cả Âu châu đều về đây mua thức ăn rau trái Việt Nam. Sau 1975, cửa tiệm này thất thế dần dần vì bị các siêu thị lớn của người Tàu (Tang Frères, Paris Store, ...) đè bẹp. Riêng siêu thị Thanh Bình Jeunes này chuyên bán các thực phẩm đem từ Việt Nam sang (thay vì phần lớn nhập cảng từ Thái Lan như các siêu thị của người Tàu), và đặc biệt còn có mấy ngăn hàng bán sách báo Việt Nam in trong nước.
 

Lúc đó, tôi hơi ngạc nhiên thấy Lê Văn Hảo đến trò chuyện với một người Pháp, khoảng 40-50 tuổi, rõ ràng mang dáng dấp của một SDF (sans domicile fixe) như người Pháp nói bây giờ, tức là một loại clochard truyền thống ở Paris ngày xưa: áo quần xốc xếch, hai gò má lộ ra những tia máu đỏ của những người nghiện rượu. Trông thái độ hai người như thầy trò với nhau. Điều tôi lấy làm lạ, người Pháp này nói được tiếng Việt khá sỏi. Anh ta bảo với tôi rằng trong siêu thị đang bày bán mấy tạp chí có bài của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hóa ra, cứ mãi quanh quẩn với mấy nhân vật trí thức ngày xưa: Trịnh Công Sơn, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, v.v.

Mấy hôm nay, tôi tìm được trên Internet mấy bài phỏng vấn Lê Văn Hảo và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Cả hai chối bai bải không chịu nhận có dây dưa gì trong cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Cả hai nói, khi đó họ đều ở trên núi, không hề tham gia quyết định trong trận chiến. Họ quá lắm chỉ tự coi là bù nhìn.

Năm 1996, lần đầu tiên về thăm quê hương sau biến cố 1975, tôi ra xem hai tiệm sách lớn ở Saigon đường Nguyễn Huệ và đường Tự Do (cũ), chỉ rặt thấy bán những sách: hồi kí của Trần Văn Khê, nhạc của Trịnh Công Sơn, tiểu thuyết của Sơn Nam, sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngoài ra, còn có một số sách của Nguyễn Hiến Lê. Nói tóm lại, đều là những người được chế độ mới ưu đãi.

Gần như cả cuộc đời trên mặt đất tôi chỉ là một kẻ mất quê hương.

Từ mấy chục năm nay, tôi chỉ có một câu hỏi quay quắt trong đầu:

Một cá nhân Hồ Chí Minh, xảo quyệt dường nào đi nữa, nếu không có những bộ hạ, và nhất là những tay "trí thức" loại "trung lập", "chủ hòa" hoặc "thành phần thứ ba", cộng với sự hỗ trợ đắc lực của hàng triệu những bác sĩ, giáo sư, thi sĩ, kĩ sư, tu sĩ... —những "tên khờ có ích" (idiots utiles), thì làm sao có thể đưa đẩy đất nước và dân tộc Việt Nam vào con đường vô vọng ngày nay?








Saturday, February 11, 2017

người hẹn cùng ta



Mấy hôm nay, trên diễn đàn @huediepchi, các bạn bàn nhiều về Đà Lạt, lại biết  tin chị md@hdc bệnh (do ô nhiễm ở Saigon thì phải), rồi nghe chị kể chuyện âm binh, làm tôi nhớ lại nhiều kỉ niệm xưa, đến nỗi đêm qua nằm mơ, một cơn ác mộng, giật mình thức giấc, lúc ba giờ sáng, trống ngực còn đập thình thình.

Tôi thấy tôi đang ở Đà Lạt, bị công an tịch thu hộ chiếu, dẫn đi trong mấy hành lang âm u như địa ngục. Chợt một lúc gặp đúng cậu Nghị (em ruột mẹ tôi) đi ngang qua đó. Cậu hình như là một sĩ quan cao cấp, dõng dạc ra lệnh cho thả tôi ra lập tức, cùng một người khác bị bắt như tôi. Tôi nghe hô rất rõ tên người ấy, nhưng bây giờ quên mất rồi. Lúc hai người đứng đợi thủ tục giấy tờ, thì tôi giật mình thức giấc, trống ngực còn đập thình thình.

Cậu Nghị tôi đến ở trọ nhà bố mẹ tôi ở Đà Lạt ngay sau ít ngày gia đình tôi rời Hà Nội vào Nam (1954). Cậu tôi hồi đó là lính trong Ngự Lâm Quân của cựu hoàng Bảo Đại, đóng trại ở gần dinh vua, nếu tôi nhớ không lầm. Mỗi đêm, tôi thường nghe cậu hút thuốc lá trong phòng, thở ra những vòng khói xanh huyền ảo, cùng với người bạn lính, hay hát "Hà Nội ơi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi...", hoặc bài "Trăng mờ bên suối" của Lê Mộng Nguyên. Tôi cũng chứng kiến ngày cậu quyết định lấy chuyến tàu cuối cùng trở về Hà Nội, tìm lại người vợ của mình.

Thời gian ngắn cùng ở với cậu Nghị ở Đà Lạt, anh tôi và tôi thường được dẫn đi xem ciné, ra tiệm ăn chè sen, hoặc đi về nhà theo những con đường dốc, dưới ánh trăng mờ. Thỉnh thoảng, cậu ấy hỏi vọng lại về phía sau: "Hết chưa?" Thế là tôi lại được phát cho một thỏi chocolat thơm phức.

Hôm đó, mẹ tôi chuẩn bị ballot cho cậu đi lấy chuyến tàu cuối cùng về Bắc. Tôi còn nhớ rõ khúc bánh mì dài nhét đầy lạp xưởng mà mẹ tôi xếp vào trong nải.

image Internet
Sau đó ít lâu, gia đình tôi bỏ Đà Lạt xuống Saigon. Hồi đó, tôi đang say mê sưu tầm tem quý, tìm thấy trong tủ giấy tờ của mẹ một hộp những lá thư màu xanh, dán đầy những con tem rất hiếm: Hồ Hoàn Kiếm, lăng tẩm Huế, Bảo Đại, Bảo Long, Nam Phương hoàng hậu... Dĩ nhiên là tôi đem bóc sạch những con tem đó, nhân tiện ngồi nhẩn nha đọc những bức thư mà tôi thấy nhạt như nước ốc, toàn những câu như là: Anh ơi, chúng mình không được gần nhau....

Cho đến ngày tôi sang Pháp và mãi tới sau 1975, tôi không có tin tức gì về người cậu. Rồi sau này, vào khoảng 1985, gặp lại người em vượt biển sang Mỹ, đến thăm tôi. Em cho biết, vài năm sau biến cố tháng Tư, cậu Nghị có vào Saigon, đem theo một túi gạo chừng 3 kí-lô biếu gia đình chị. Mẹ tôi nhận món quà của cậu và nói riêng với em tôi: "Hóa ra dân miền Bắc còn đói khổ hơn miền Nam từ bao năm rồi!" Vài năm sau đó, em tôi đi Hà Nội theo lời yêu cầu của mẹ, đến phố Tràng Thi — nơi có căn nhà của ông ngoại (làm nhà nhiếp ảnh ngày xưa) để lại, để tìm cậu Nghị. Khi em vào đến căn nhà, lúc đó đã bị chia năm xẻ bảy cho nhiều gia đình, bước lên thang lầu ọp ẹp, thấy ngay một cặp cụ già tóc bạc phơ, giương mắt nhìn em trừng trừng một lúc, rồi bật khóc oà. Ấy là vợ chồng cậu Nghị em tôi gặp lại ở Hà Nội vào khoảng 1975-1980. Hai người đã mất vào khoảng năm 2000.



Phụ lục






Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dải ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió ngây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ

Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi,
Biết người có nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy anh về

Một ngày mùa chinh chiến ấy,
Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay
Một ngày tả tơi hoa lá,
ngóng trông về xa ... luyến thương hình bóng qua.

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui
Hà Nội ơi, kiếp người muôn hướng buông trôi
Nhớ về người những đêm rơi
Nhắn theo ngàn cánh chim trời.

Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xưa,
Mắt buồn dâng những đêm mưa,
Não nùng mây gió đong đưa

Hà Nội ơi, nỗi lòng gởi gấm cho nhau,
nhớ hoài chỉ biết thương đau,
đắm say chờ những kiếp sau.

Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua,
mái trường phượng vĩ dâng hoa
nắng chiều ủ bóng tiên nga.

Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về.

Một ngày tàn hương chinh chiến,
lửa khói lắng chìm, tìm về nơi bờ bến
Một ngày hồng tươi hoa lá
Hát câu tình ca nói lên lời thiết tha

Hà Nội ơi, biết người còn có trông mong,
Hướng về ai lỡ hay không những ngày xa vắng bên sông.

Hà Nội ơi, những chiều sương gió dâng khơi
Có người lặng ngắm mây trôi,
Biết bao là nhớ tơi bời ... 




phố Tràng Thi
photo https://36hn.wordpress.com/2016/05/17/pho-trang-thi-xua/













Friday, October 14, 2016

mưa trên phố Huế


Chị TH,

Ở Âu châu đã gần sang mùa đông, nhưng hoa cúc vàng còn đang nở rộ... 

photo dtk 20xy

Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên...
 


Chàng Xuân Diệu xưa viết hai câu thơ đẹp về hoa cúc, nhưng cũng đầy tham vọng quan sang.


Nhưng bây giờ là mùa xuân bên Úc, chị TH làm tôi bỗng nhớ Huế...


Em yêu xứ Huế ngày xưa,
Nhớ chùa Thiên Mụ nhớ hồ Tịnh Tâm.
Còn đâu những buổi mưa dầm,
Em cùng chúng bạn âm thầm gội mưa...
(*)


Hôm đó, chúng tôi ở phi trường Phú Bài, đang đợi chuyến bay về Saigon. Bỗng người tài xế, cho chuyến du lịch mấy ngày qua, chạy đến đưa cho một CD có bài Mưa trên phố Huế. Có lẽ anh ấy vừa lùng khắp mấy tiệm bán dĩa nhạc trong thành phố Huế. Tôi hơi cảm động, vì hiểu anh ấy đã nghe lời tôi kể, trong lúc xe ra phi trường, tôi rất thích bài ca này, lần đầu nghe được trên thuyền bơi dạo sông Hương hôm trước.

Gửi chị TH và các bạn huediepchi@googlegroups.com 

mấy youtube nghe lại cho vui...













Chú thích

(*) Bài thơ này thuộc lòng từ thời tiểu học, hay đọc được trong báo trẻ em "Tuổi Xanh" (vào những năm 1960, 1961…), bây giờ tôi không nhớ rõ.




Phụ lục

Tác giả: Minh Kỳ & Tôn Nữ Thụy Khương
 

Ngâm thơ:

Ta nhớ ta thương... sông Hương, núi Ngự...
Mơ chốn yên bình, nhịp sống thanh tao
Ta vẫn ước ao, làm sao trở lại...
Dẫu Huế xa rời, ta mãi mến thương
Dẫu Huế u buồn, ta mãi nhớ thương...


Chiều nay mưa trên phố Huế
Kiếp giang hồ không bến đợi
Mà mưa sao vẫn rơi rơi hoài
cho lòng nhớ ai
Ngày chia tay hôm nao còn đây
Nước trên sông Hương còn đầy
Tình đã xa gió mưa u hoài
mắt lệ ngắn dài

Chiều nay trên Kinh Đô Huế
Tiếng mưa còn vương kỷ niệm
Ngày quen nhau dưới chân Thiên Mụ
anh còn nhớ không?
Chợ Đông Ba khi mình qua
Lá me bay bay là đà
Chiều thiết tha có anh bên mình
mà ngỡ hôm qua

Hò...ơi...!!! Ơi...hò...!!!
Chiều mưa phố buồn
Chiều mưa phố xưa u buồn
có ai mong đợi
Một người biền biệt nơi mô
Để nhớ với thương một người

Chiều nay mưa trên phố Huế
Biết ai đã quên ai rồi
Mà mưa sao vẫn rơi rơi đều
cho lòng u hoài
Ngày xưa mưa rơi thì sao
Bây chừ nghe mưa lại buồn
Vì tiếng mưa, tiếng mưa trong lòng
làm mình cô đơn. 



Tái bút
2016-10-16 06:08


Cám ơn bạn NĐT đã chép cho bài thơ Nguyễn Bính viết từ năm 1941 về mưa ở Huế.

Bài Giời mưa ở Huế của Nguyễn Bính

 
Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Giời mờ ngao ngán một loài mây

Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...

Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội
Bốn tháng hình như kém mấy ngày
Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh
Để rồi nằm mốc ở nơi đây

Thuốc lào hút mãi người ra khói
Thơ đọc suông tình hết cả hay
Túi rỗng nợ nần hơn Chúa Chổm
Áo quần trộm mướn, túng đồ thay

Hàng xóm có người con gái lẻ
Ý chừng duyên nợ với nhau đây
Chao ôi! Ba bốn tao ân ái
Đã đủ tan tành một kiếp trai.

Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!
Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngày
Khăn gói gió đưa sang xứ lạ
Ai cười cho được lúc chia tay?

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?
Mà nhớ mà thương đến thế này!

Cố nhân chẳng khoá buồng xuân lại
Vung vãi ân tình khắp đó đây
Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay!
Gia đình dọn cả lên Hà Nội (1)
Buôn bán loanh quanh bỏ cấy cầy
"Anh em cánh nhạn người Nam Bắc
Tâm sự hồn quyên lệ ngắn dài..."

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Hôm qua còn sót hơn đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say
Nón lá áo tơi ra quán chợ
Trơ vơ trên bến nước sông đầy
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành, lạnh ngón tay.
Ôn lại những ngày mưa gió cũ
Những chiều quán trọ những đêm say
Người quen nhắc lại từng tên một
Kể lại từng nơi đặt dấu giày
Trôi dạt dám mong gì vấn vít
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây
Tỉ tê gợi nhớ niềm tâm sự
Cúi mặt soi gương chén rượu đầy
Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ
Đôi lòng hoà một vị chua cay
Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ
Cha mẹ chiều chiều ...con nước mây
Hoa rao bán nhuỵ tình nên vợ
Chim nửa bình minh bóng trúc gầy.
Không hiểu vì đâu hai đứa lại
Chung lưng làm một chuyến đi đầy?
Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày...
Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế
Quên được làm sao bữa rượu này.



Huế 1941

(1) Có bản in là "Gia đình thiên cả lên thành thị".

Tái bút
2016-10-16 21:27

Tuy nhiên, thơ Nguyễn Bính trong bài này sao mà thảm thiết quá.
Hôm qua, nghe lại bài hát nhắc đến ở trên ("Mưa trên phố Huế"), tôi chợt nhận ra là mình đã nhớ sai.
Chính ra là bài "Huế xưa". Lời ca cũng buồn đứt ruột, nhưng vẫn còn chút hi vọng vào một ngày mai tươi sáng.
Xin cài ở đây một youtube tìm được trên Internet, để nghe và nhớ.




Tái bút
2022-02-01 00:01
Thêm lời bài ca

Sáng tác: 

Anh Bằng


Tôi có người em sông Hương núi Ngự,
Ϲủa lũу tre thôn Vĩ hiền từ,
Ϲủa kinh thành cổ xưa thật xưa.
Buổi trưa em che nón lá,
Ϲá sông hương liếc nhìn ngẩn ngơ,
Lũ chim quуên ngất ngâу từ xa.
Tôi sống độc thân trong căn phố nghèo,
Bởi trót thương nên nhớ thật nhiều,
Bởi em là hạnh phúc tình уêu.
Ở bên ni qua bên nớ,
Ϲách con sông chuуến đò chẳng xa,
Nhỏ sang thăm có tôi đợi chờ.

Huế ơi! không biết bâу chừ,
Tiếng ca nào vương bên mạn thuуền,
Ϲó ai chờ ai qua Trường Tiền,
Không biết bâу chừ,
Nữ sinh mang nón bài thơ,
Để trai xứ huế mộng mơ.
Huế ơi! ta nhớ muôn đời,
Bóng trăng hồ sen trong Hoàng Thành,
Tiếng chuông từng đêm Thiên Mụ buồn,
Ta nhớ muôn đời,
Người con gái Huế quá xinh,
Tóc mâу ngang lưng trữ tình.

Non nước thần kinh quê hương đất lành,
Là trái tim sông núi của mình,
Ϲả linh hồn của dân hùng anh.
Bởi đâu gâу nên nông nỗi,
Ϲánh chim baу giữa trời lẻ loi,
Nhỏ tôi уêu không bao giờ nguôi.
Tôi đã lạc em trong cơn biến động,
Để tháng năm hai đứa lạnh lùng,
Để đêm ngàу kẻ nhớ người mong.
Khổ đau cao như mâу tím
Phố năm xưa Huế buồn buồn thêm,
Nhỏ уêu ơi, biết đâu mà tìm?!


Tái bút
2018-04-30

Hôm nay "tình cờ" nghe lại một bài về Huế, Hà Thanh hát, âm thanh tan nát cõi lòng, và những bóng hình xưa lũ lượt bay về...

Tái bút
2025-08-21 22:40



Tái bút
2025-08-24 18:21











Saturday, July 23, 2016

buổi sáng trong rừng sách


Một tuần sau vụ khủng bố chết người ở thành phố Nice (Pháp) bên bờ biển xanh, cảm giác sống ở một xứ thanh bình bỗng trốn đâu mất. Sáng nay chợt có ý định đi xem sách ở Forum des Halles tại trung tâm Paris, tôi không khỏi lo sợ vu vơ. Hệt như mấy chục năm về trước, thời Sài Gòn chiến tranh, ban đêm giới nghiêm, ban ngày đọc báo tin lựu đạn nổ ở chợ Bàn Cờ hay rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng. Mỗi lần buổi chiều tôi đi đâu về trễ, vào đến cửa là thấy sắc mặt mẹ còn xanh vì lo lắng cho con.

Quả thực là hôm nay, khu phố Les Halles không đông đúc lắm. Bên cạnh lối vào nhà sách FNAC người ta không biết đợi gì, nối đuôi dài gần ba chục thước.

Tôi bồng bềnh đi trong mấy hành lang trưng bày bao nhiêu là sách. Số người đến đây hôm nay thưa thớt hẳn đi so với những "lúc bình thường". Cái thú đến xem sách ở đây là được hoàn toàn tự do lật tung bất kì một cuốn sách nào, xem qua vài trang hoặc ngồi bệt xuống đất, đọc trọn tập truyện bằng tranh (bandes dessinées) cũng không bị ai rầy rà.

Lâu rồi, tôi ít đọc sách in. Trên Internet bây giờ đọc ebooks không tốn tiền mua, đọc đến chết cũng không hết. Thỉnh thoảng mới ra quán sách mua vớ vẩn một cuốn gì đó, rất tình cờ, để thay đổi "không khí", thế thôi.

Tôi bâng quơ tạt qua gian hội họa, lật vài quyển viết về phái Impressionnisme. Ồ, sách họ in bây giờ đẹp quá, giá bán cũng phải chăng. Mấy bức tranh của Monet quả là bất hủ. Kìa bên kia là sách về nhiếp ảnh. Những bộ sách khá đắt tiền. Minh tinh màn bạc, người mẫu vú mông với những đường cong tuyệt mĩ. Câu thơ của Nguyễn Du mới là hợp cảnh: "Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên".

Không hiểu sao, một cuốn sách về chính trị/thời sự bỗng đập vào mắt tôi:




Có lẽ vì cái tên tác giả. Lão này trước kia là ngoại trưởng Mĩ, người đã kí hiệp định Paris 1973 cùng với Lê Đức Thọ (Hà Nội) bán đứng miền Nam cho Cộng Sản (Tàu). Ấy, sau đó hai tay này còn được phát giải Hòa Bình Nobel! Hừm, không biết hắn ta còn bày vẽ cái gì với một nhan đề như thế: "Trật tự thế giới (L'ordre du monde)"???

Ờ, kìa là một cái tên quen thuộc, nổi tiếng như cồn. Tôi biết sách của tác giả Thích Nhất Hạnh bằng tiếng Anh và tiếng Pháp bán rất chạy từ hàng chục năm qua. Ba cuốn tôi vừa thấy được xếp bên cạnh mấy cuốn best-sellers của Đức Đạt-lai Lạt-ma kia kìa. Ba cái nhan đề (và mấy dòng kèm theo) hết sức hợp thời đúng cảnh:



Apaiser l'esprit face à la violence
La réponse du Zen au terrorisme

Vivre en pleine conscience
S'ASSOIR

Prendre soin de l'enfant intérieur
Faire la paix avec soi

 

Tôi đứng trầm ngâm một hồi, miên man với bao ý tưởng trong đầu.

Quay mắt nhìn sang gian hàng bên cạnh, hỗn độn những tên chính trị gia Pháp đang đua chen cho kì bầu cử tổng thống năm sắp tới 2017.

Một bức chân dung nửa mặt với con mắt phải mở to nhìn sững lấy tôi: Michel ROCARD.



Tôi cúi xuống đọc nhan đề cuốn sách:

LETTRE AUX GÉNÉRATIONS
FUTURES, ESPÉRANT
QU'ELLES NOUS PARDONNERONT
 

THƯ GỬI CHO NHỮNG THẾ HỆ
MAI SAU, ƯỚC MONG
CÁC CON CÁC CHÁU THA THỨ CHO CHÚNG TÔI

Michel Rocard
(1930-2016) là cựu thủ tướng Pháp dưới thời tổng thống François Mitterrand (1916-1996). Michel Rocard vừa qua đời hơn hai tuần nay.

Ước mong các con các cháu tha thứ cho chúng tôi...

Ôi không bao giờ có một người Nnước Việt Nam bây giờ nói được một lời như thế!






















Monday, July 18, 2016

đàn bướm tung bay


Mẹ tôi buôn thúng bán bưng ít khi có dịp mặc áo dài. Một lần mẹ mặc chiếc áo dài cố hữu màu cánh gián may bằng lụa nội hóa dẫn tôi đi đến nhà một ông quen lớn để chạy chọt cho anh tôi đang ở quân trường khỏi bị đưa ra tiền tuyến. Mẹ con mỗi người ôm khư khư một gói trái cây quý nhập cảng từ bên Pháp. Dưới khí hậu nhiệt đới, những quả táo, quả nho tỏa hương thơm phức. Tôi bốc dòng máu nóng thiếu niên bồng bột nói với mẹ: "Có sức chơi sức chịu. Đi lính thì ra chiến trường. Tại sao phải cầu cạnh?!" Mẹ tôi không trả lời. Dưới ánh đèn tranh tối tranh sáng, bên chiếc bàn làm việc, vị giáo sư trẻ tuổi cười cười từ chối lấy lệ món quà. Ít tháng sau, mẹ tôi lại mặc chiếc áo dài cũ đó đưa tôi đi đón xe đò Saigon-Bình Dương. Chiếc xe cũ kĩ, chật ních, còn dư một chỗ ngồi cho mẹ, còn tôi nửa đứng nửa ngồi. Đó là một ngày đầu năm âm lịch, mẹ con đưa nhau đi thăm anh tôi thuộc Sư đoàn 5 bộ binh Vùng 3 chiến thuật. Quốc lộ 13 nắng rát, ngoằn ngoèo như thân rắn. Ruộng đồng hai bên khô cằn, nứt nẻ, trơ gốc rạ. Dấu vết làng mạc là nhưng túp lều tranh ở cuối xa xa. Màu vàng ruộng đồng bây giờ là màu lửa cháy xém chứ không phải là màu lúa chín mênh mông. Và những ngôi làng thiếu những bụi tre um tùm bao bọc. Dọc đường thỉnh thoảng gặp những căn nhà nửa tỉnh nửa quê chổng trơ chợ chiều. Lác đác tiếng nổ lẹt đẹt do những người lính Dân-vệ áo đen chĩa súng lên trời bắn pháo mừng xuân. Tấm lòng niên thiếu giữa thời chiến loạn bỗng nhiên hoang vắng lạ thường. Một lần thấy mẹ vui với chiếc áo dài Việt Nam, đó là lần đi lễ Nguyên Đán xin xâm ở Lăng Ông Gia Định. Không khí tràn ngập khói hương. Những tà áo màu ẩn hiện đâu đây.
Không biết hôm đó bói được quẻ gì, mẹ tôi hân hoan ra về, tay cầm lộc mới. Sau này sang Pháp, ở một tỉnh nhỏ. Đại học quốc tế mời sinh viên Việt Nam tham dự dạ hội mừng xuân. Đa số các sinh viên người mình không có tài văn nghệ. Nhiều người đề nghị cho các cô các cậu mặc áo bà ba đen hát hò dô ta. "Như kiểu Mặt Trận Giải Phóng Min Nam ấy à?!", tôi nghĩ. Yếu thế vì không biết đàn hát là gì, tôi vẫn lớn tiếng chống đối: "Mấy người múa hát lè phè. Thế giới kinh tởm chiến tranh rồi. Đem màu đen chết chóc ra trình diễn chỉ tổ cho người ta chán ngấy. Hãy cho các cô mặc áo dài. Múa có dở nhưng thấy áo dài đẹp, quốc tế họ cũng thích rồi!" Đêm trình diễn, các sinh viên da đen làm lễ tế thần, tiếng trống bập bùng như tiếng gọi của Phi Châu nguyên thủy. Các sinh viên Cam-Bốt mời được đoàn vũ công chuyên nghiệp từ Paris xuống biểu diễn màn múa dừa khô vô cùng ngoạn mục. Đến lượt các cô Việt Nam, chưa ai từng biết múa, vừa tập dượt vội vã được mấy ngày, từ trong hậu trường sân khấu nhịp nhàng bước ra. Hai cậu sinh viên từ hai bên hông khán giả bắt đầu quay ống đèn màu. Tiếng hát hòa mình với điệu múa nón bài thơ. Những bước chân còn vụng dại, nhưng không ai để ý, vì những chiếc áo dài thướt tha uyển chuyển như một đàn bướm tung bay... 

"Trời Xuân em che nón lá, nắng hanh lên hồng đôi má..." Các cô vừa lui bước trước khi màn hạ, những tràng pháo tay đã nổ ra ròn rã. Má cô nào cũng đỏ hây hây. Vì mệt hay vì sung sướng?



Belfort-Paris, 28.02.1985
















Monday, July 11, 2016

cá chết



Buổi trưa ra vườn xem hoa súng nở, chợt thấy một con cá phơi bụng bạc trên mặt nước trong hồ. Trông dáng con cá nằm, biết ngay là nó đã chết. Tôi lấy cái gáo dừa vớt nó lên, đem ra cuối vườn vùi xác dưới mấy phân đất đen. Lòng buồn buồn. Gần một tuần qua rồi, lòng tôi vẫn cứ mãi buồn buồn. Lạ thực.

Ờ, đem chôn một con cá chết trong hồ như vậy, tôi đã quen việc từ nhiều năm nay. Thỉnh thoảng thường có mấy con chim lớn bay lại rửa cánh, đôi khi ngắm nghé muốn mổ cá lội trong nước. Đó là chưa kể còn có con mèo lông xám nhà hàng xóm hay lảng vảng bên bờ hồ, nhiều khi còn thò chân xuống nước, định chộp cá. Mấy con cá nhỏ trong hồ, chắc biết thế nên ít khi dám trồi lên mặt nước, trừ vài khi lúc có người thêm nước vào hồ, nghe tiếng nước róc rách, chắc tụi nó vui quá, quên cả sợ, bơi lội tung tăng. "Bầy cá mới sướng chứ," tôi mỉm cười tự nhủ.

Mấy tuần nay, tin tức qua Internet báo động cá ngộ độc chết tràn trên biển miền Trung (Việt Nam). Ôi, mà tin tức buồn thảm về đất nước thì hà rầm từ mấy chục năm rồi. Nhưng lần này liên quan tới cá, nên tôi cứ ưởng ưởng trong người gần cả tuần nay?

Bất chợt, muôn vàn kỉ niệm xưa đổ dồn như nước lũ về trong tâm khảm.

Năm ấy, chưa đầy 17 tuổi, tôi đang học thi Tú Tài phần Một ở Sài Gòn. Chiến tranh Việt Nam bắt đầu càng ngày càng khốc liệt. Anh tôi nghỉ phép quân đội về thành, đem tặng tôi cuốn sách mỏng nhan đề "Nói với tuổi hai mươi" của tác giả Nhất Hạnh mà tôi chưa nghe đến bao giờ. Tôi hiểu ý anh tôi dùng món quà thay lời khuyên nhủ đứa em trai. Giản dị lắm, đại khái muốn bảo tôi hãy cố gắng học giỏi thi đậu và chưa phải đi lính ngoài tiền tuyến như anh ấy bấy giờ. Nhưng khi đọc cuốn sách, mặc dù lời văn rất trong sáng ngọt ngào, tôi lại bị lôi cuốn mãnh liệt vì một lá thư của một người tuổi trẻ ngang tàng, cũng chính là đối tượng của cuốn sách kia. Nhất là mấy câu viết này (ghi lại theo trí nhớ): "Chúng tôi không cần tới các ông nữa. Chúng tôi tự gánh lấy trách nhiệm của mình trên những đôi vai yếu đuối..." Không còn nhớ trong hoàn cảnh nào, tôi vùng ra tiệm sách Khai Trí đường Lê Lợi 
(*) Nhà sách Khai Trí, Saigon, trước 1975
mua về đọc ngấu nghiến bộ sách dày cộm "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" của Phạm Công Thiện.

Trong lá thư gửi cho Hồng (nào đó), dùng làm lời tựa, tác giả viết mấy dòng nồng nàn đầy cảm xúc làm tôi đau điếng tâm hồn (ghi lại theo trí nhớ): "Ngoài kia có những người tuổi trẻ đang giãy giụa chết trong mưa... Khóc lên đi, hỡi quê hương yêu dấu..."

Có một điều kinh khủng mà tôi không bao giờ hiểu nổi: Tại sao còn những bàn tay bẩn điên cuồng đưa đẩy con người đến bước đường phá sản cùng tận mà hôm nay vẫn ngang ngược không nguôi?







Tham khảo