1.
bóng ngày qua
lá non thác đổ đâu đây, vẳng nghe nước cũ bóng ngày thoảng qua をちこちに滝の音聞く若葉哉 ochikochi ni taki no oto kiku wakaba kana ~ From far and near, Hearing the sounds of waterfalls, Young leaves (Buson) ~ https://www.takase.com dang.thekiet2022@yahoo.com
Saturday, September 5, 2026
cuộc cờ
Wednesday, August 26, 2026
hoa
buồn vui
hoa rụng
qua cầu viễn khơi
trúc đào
rơi rớt tả tơi
còn đây phong lữ
gió vời tóc xanh
====
dtk@hdc.com 25/08/2026
Sunday, August 23, 2026
Paris tháng 8
tháng tám người thưa chuyến trễ tràng
lá thắm còn thương đường vệt nắng
phố chiều chân lẻ bước hoang mang
====
dtk@hdc.com thứ Bảy 22/08/2026
Monday, August 17, 2026
sáng hè ngẫu hứng
----
@Vũ Hoàng Thư @Gió-O Hải Ngoại
(*01) cuối năm 2022, còn trao đổi emails với anh Thi Vũ Võ Văn Ái (1935-2023), tôi kể chuyện trái hồng trái sung kỷ niệm ngày tuổi nhỏ. Anh kể có nhà hàng xóm mỗi năm đều đem sung chín sang biếu, và anh rất thích ăn sung tím với ly rượu Bordeaux.
====
dtk@hdc.com 17/08/2026
Thursday, August 6, 2026
Thursday, July 30, 2026
Nghe mưa
Từ hai ba tuần nay, đài khí tượng dự báo sẽ mưa. Lúc nãy, vừa mở cửa sổ, chỉ nghe mấy giọt lộp độp trên mái nhà, mấy phút rồi ngưng. Đúng lúc có người quen vừa từ Sài Gòn sang gọi điện thoại báo tin 5 phút sẽ đem lại một cuốn sách tôi nhờ mua từ hơn một năm trước. Một lúc sau thì mưa bắt đầu nặng hạt, và từ nãy đến giờ vẫn tiếp tục rơi rả rich. Tôi đội mũ, mặc áo khoác, ra vườn nghe mưa. Đúng là cửu hạn phùng cam vũ. Cả tháng nay, chịu đựng "cái nóng nung người" đã ngán. Nhớ đến bài thơ "Thính vũ" của Nguyễn Trãi, đi thuyền trằn trọc đến sáng, ~ hẳn vì lo tìm kế sách giải cứu quê hương thoát vòng đô hộ của Nhà Minh. Tiếng mưa thánh thót trên lá trên hoa, trên mái nhà, trên sân gạch... nghe như một khúc nhạc không lời. Tôi không biết hát, lên Mạng Nhện tìm lại bài "Mưa rừng" vốn thích từ xưa:
.
.
Hóa ra nhớ lầm về bài thơ "Thính vũ" của Nguyễn Trãi. Xin xem lại dưới đây:
Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) * thơ chữ Hán
Wednesday, 25 February 2015
003 Thính vũ
聽雨
寂寞幽齋裡
終宵聽雨聲
蕭騷驚客枕
點滴數殘更
隔竹敲窗密
和鐘入夢清
吟餘渾不寐
斷續到天明
Phiên âm:
Thính vũ
tịch mịch u trai lí
chung tiêu thính vũ thanh
tiêu tao kinh khách chẩm
điểm tích sổ tàn canh
cách trúc xao song mật
hòa chung nhập mộng thanh
ngâm dư hồn bất mị
đoạn tục đáo thiên minh
Dịch nghĩa:
Nghe mưa
trong phòng tối vắng vẻ
suốt đêm nghe tiếng mưa
(tiếng mưa) buồn bã làm kinh động gối khách
từng giọt đếm canh tàn
(những hạt mưa) qua bụi tre ngăn gõ vào cửa sổ liên hồi
lẫn với tiếng chuông chùa đi vào giấc mơ trong trẻo
ngâm thơ xong vẫn chẳng ngủ được
(nghe tiếng mưa) đứt nối rả rích đến sáng
Dịch thơ:
Nghe mưa
Mơ màng phòng trai vắng lặng
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
Giật mình xác xao gối khách
Ðếm canh từng giọt chơi vơi
Khóm trúc xạc xào song cửa
Chuông ngân mộng mị bồi hồi
Ngâm vịnh chán còn chưa ngủ
Nối, ngưng cho đến sáng trời
(Hạt Cát dịch)
Quạnh quẽ trong phòng vắng
Suốt đêm nghe tiếng mưa
Khách buồn trăn trở gối
Từng giọt nhỏ canh khuya
Cách trúc gõ song nhặt
Chuông chùa vào mộng lưa
Ngâm xong vẫn chẳng ngủ
Rả rích tới tinh mơ
(ĐTK dịch)
Cf. https://hv-ebook-nguyentrai-han.blogspot.com/2015/02/thinh-vu_25.html
Tìm đọc lại bài thơ có câu:
"Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh" (Nằm ở cửa sổ thuyền trăn trở gối đến sáng):
028 Quy Côn Sơn chu trung tác
歸崑山舟中作
十年飄轉嘆蓬萍
歸思搖搖日似旌
幾托夢魂尋故里
空將血淚洗先塋
兵餘斤斧嗟難禁
客裡江山只此情
鬱鬱寸懷無奈處
船窗推枕到天明
Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình
Quy tứ dao dao nhật tự tinh
Kỉ thác mộng hồn tầm cố lí
Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh
Binh dư cân phủ ta nan cấm
Khách lí giang sơn chỉ thử tình
Uất uất thốn hoài vô nại xử
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh
Dịch nghĩa:
Trong thuyền về Côn Sơn cảm tác
Mười năm phiêu giạt than thân bồng bèo
Lòng muốn về ngày ngày lay động như đuôi cờ
Bao lần nhờ chiêm bao đi tìm làng cũ
Luống đem nước mắt lẫn máu rửa mồ tổ tiên
Sau cơn binh lửa, thương ơi, nạn búa rìu khó ngăn
Non sông đất khách chỉ đeo đẳng mối tình này
Tấc lòng bùi ngùi chẳng biết làm sao
Nằm ở cửa sổ thuyền trăn trở gối đến sáng
(Bản dịch xuôi trong: Nguyễn Trãi, Sinh thức và Hành động, trang 172, Võ Văn Ái, Quê Mẹ xuất bản, Paris 1981)
Dịch thơ:
Trong thuyền về Côn Sơn cảm tác
Mười năm phiêu giạt bồng bèo,
Mong về phất phất cờ treo gió lùa.
Đi tìm làng cũ trong mơ,
Luống đem nước mắt rửa mồ tổ tiên.
Sau cơn binh lửa muộn phiền,
Non sông đất khách một niềm khôn nguôi.
Tấc lòng cố quốc ngùi ngùi,
Cửa thuyền trở gối sáng trời không hay.
(Đặng Thế Kiệt dịch)
Cf. https://hv-ebook-nguyentrai-han.blogspot.com/2015/03/028-quy-con-son-chu-trung-tac.html
.
.
.
[Phụ lục]
Xem hình ở dưới.
1. Con ốc sên này khôn đáo để, nó chẳng cần Trí tuệ nhân tạo AI gì ráo, biết lò dò bò từ bờ tường đến sát cây dưa leo, chắc muốn ngốn trái dưa mới lớn. Tôi lấy cành tre cột thân cây leo ra xa một chút. Đợi mai coi con ốc sên xoay sở ra sao.
2. Ui da, tụi ốc sên này khôn quá, đang kéo đồng minh đổ bộ.
====
dtk@hdc.com 30/07/2026
Sunday, July 26, 2026
Bashō ~ Bleached bones in a field
心に風の
しむ身かな
Nozarashi o
Kokoro ni kaze no
Shimu mi kana.
-- Matsuo Bashō (1644-1694)
Bleached bones in a field;
The wind pierces my body,
And it chills my heart.
https://wp.me/p6Tlhs-dV
thế là khăn gói lên đường
phơi thân sương gió dặm trường mênh mang
(dtk phỏng dịch)
*
*
*
26/07/2026, Tokyo
Ghi chú của bạn anh NHV:
「野ざらし紀行」là cuộc du hành lớn đầu tiên của Bashō, chỉ dài khoảng 8 tháng. Mục đích là để rèn luyện bản thân, thăm bạn bè, sáng tác, thăm các danh thắng và di tích văn học ở miền Đông Bắc Nhật Bản, hoàn thiện tư tưởng nghệ thuật và triết lý cho chuyến đi mà thành quả là cho ra đời tác phẩm này. Cũng như là làm nền tảng tư tưởng và triết lý cho những tác phẩm về sau trong chuyến đi cho ra đời tác phẩm lừng danh 「奥の細道」mấy năm sau.
Đây là bài haiku mở đầu tập du ký Nozarashi Kikō (『野ざらし紀行』)
野ざらしを (5)
心に風の (7)
しむ身かな (5)
Bài này được viết trước cuộc du hành. Năm 1684, Bashō rời Edo (nay là Tokyo) với tâm thế:
"Có thể ta sẽ chết bên đường."
Chính vì vậy ông mở đầu tập du ký bằng:
野ざらしを
("Mang trong lòng hình ảnh thân xác sẽ phơi nơi đồng nội...")
Qua chuyến đi này, Bashō bắt đầu hình thành quan niệm cuộc đời là một chuyến lữ hành, ngao du, phải bước đi giữa thiên nhiên để cảm nhận cuộc sống và cái đẹp nằm trong sự vô thường.
1. Dịch nghĩa
Lấy hình ảnh xác phơi ngoài đồng làm điều nghĩ trong lòng,
gió thấm vào tim,
thân này biết bao cảm khái.
1. Phân tích từng câu
2.1 野ざらしを
野ざらし(のざらし)
Thi thể hay xương khô bị bỏ mặc ngoài đồng, phơi nắng phơi mưa, không người chôn cất, ngó ngàng.
2.2 心に風のしむ
心にしむ: thấm vào lòng, xuyên thấu vào tận lòng. Ở đây 風が心にしむ không chỉ là "gió lạnh" mà là cái lạnh của chuyến lữ hành, cái lạnh của kiếp người.
2.3 身かな
Ở đây かな là 切れ字 mang sắc thái đậm ý cảm thán, chiêm nghiệm, than thở: "Ôi, thân này, thân ta...", và 身 không chỉ là cơ thể con người mà là chính bản thân ta. Nhưng かな ở đây không phải để than thân trách phận mình mà là để tập trung và cảm nhận thâm sâu và tự phản tỉnh một cách bình tĩnh
1. Ý nghĩa
Bashō mở đầu bài thơ bằng hình ảnh đập thẳng vào mắt vào của con người, nhấn mạnh ý niệm cuộc đời vô thường, đời người mong manh, chết chóc cô độc trong cuộc sống bấp bênh của 1 hành trình gian nan.
"Ta sẽ lên đường, có lẽ một ngày nào đó thân ta cũng sẽ chết nơi đất khách như những bộ xương kia nằm mưa dãi nắng ngoài đồng". Đây không phải là nỗi sợ chết, tránh cái chết, mà là một sự thật phải chấp nhận như một phần của cuộc hành trình, vẫn lên đường dù biết đầy dẫy cam go, gian khổ và hiểm nguy.
Bashō đã không nói: "Ta sợ, hay ta lo lắng" mà chỉ đưa ra ba hình ảnh bộ xương ngoài đồng, cơn gió lạnh và thân mình để người đọc tự nối kết ba hình ảnh ấy lại. Đây chính là nghệ thuật "nói ít mà gợi nhiều" của thơ haiku. Bài thơ chỉ có 17 âm tiết, nhưng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa:
野ざらし tượng trưng cho cái chết và sự vô thường, cho sự cam go, gian nan của cuộc đời biểu hiện qua những gì có thể xẩy ra trong cuộc hành trình của một lần đi hay là trong cuộc đời con người.
風 tượng trưng cho thiên nhiên, thời gian và số phận.
心にしむ diễn tả sự thấm sâu của cảm xúc, không phải chỉ là cái lạnh thể xác.
かな khép lại bài thơ bằng một tiếng cảm thán lặng lẽ, để dư âm còn vang trong lòng người đọc.
Bài thơ không chỉ là những cảm nghĩ những gì phải đối đầu và kết cục cho một chuyến đi, mà còn mở ra một thái độ sống: sẵn sàng dấn bước, chấp nhận và đối diện với khó khăn bằng sự bình thản.
Dịch thơ
Nghĩ xác phơi đồng nội,
Gió buốt tận tâm can
A, thân này lên đường.
----
rev. 26/07/2026 add ghi chú Tokyo
Thursday, July 23, 2026
tiếng ve kêu
Năm đó, đi nghỉ hè ở miền nam nước Pháp, buổi trưa nằm võng nửa tỉnh nửa mơ, bên gốc cây sồi trong vườn, bỗng nổi râm ran tiếng ve sầu, không rõ từ đâu vọng lại, tưởng như rất gần mà cũng rất xa. Ngôi biệt thự nằm trong một khu rừng trồng đầy những cây thông lớn (pins parasols) và những cây sồi (chênes). Vườn nhà này tiếp theo nhà kia, không thấy ranh giới, chạy dài tới biển...
静けさや
岩にしみ入る
蝉の声
Shizukesa ya
Iwa ni shimiiru
Semi no koe
Ah, such stillness—
The sound of a cicada
sinks into the rocks.
~ Matsuo Bashō
Tùng Vĩ Ba Tiêu 松尾 芭蕉
(1644–1694)
.
.
====
Trong bài haiku:
閑さや(静けさや)
岩にしみ入る
蝉の声
chữ や là một 切れ字(きれじ, kireji – "từ ngắt" hoặc "chữ ngắt"), một đặc trưng quan trọng của thơ haiku.
1. Chức năng của 「や」
や không mang nghĩa từ vựng cụ thể như một trợ từ thông thường, mà có ba chức năng chính:
Ngắt nhịp (tạo một khoảng dừng trong cảm xúc và ý tưởng).
Nhấn mạnh từ đứng trước nó.
Gợi cảm xúc hoặc sự cảm thán, nhưng không nói trực tiếp cảm xúc là gì.
Vì vậy:
閑さや
không đơn thuần có nghĩa là "sự yên tĩnh", mà gần với:
"Ôi, sự tĩnh lặng!"
"Biết bao tĩnh lặng!"
"Một sự tĩnh lặng đến lạ..."
Sau tiếng や, người đọc như dừng lại một nhịp để cảm nhận sự tĩnh mịch, rồi mới chuyển sang hình ảnh:
岩にしみ入る蝉の声
"Tiếng ve thấm vào đá."
Chính khoảng lặng do や tạo ra khiến tiếng ve càng trở nên nổi bật.
1. Tại sao Bashō dùng 「や」 mà không dùng 「かな」?
Trong haiku có nhiều 切れ字, nổi tiếng nhất là:
や: ngắt và mở ra một không gian suy tưởng, khá trung tính.
かな: bộc lộ cảm xúc rõ ràng hơn (than thở, ngạc nhiên, cảm động).
けり: biểu thị sự nhận ra, phát hiện hoặc cảm khái sau khi nhận thức.
Nếu Bashō viết:
閑さかな
thì sắc thái sẽ là:
"Ôi, thật tĩnh lặng biết bao!"
Cảm xúc của tác giả lộ rõ hơn.
Còn:
閑さや
chỉ mở ra một khoảng không gian tĩnh mịch để người đọc tự cảm nhận. Đây chính là phong cách rất đặc trưng của Bashō: ít nói, nhiều gợi.
1. Vai trò trong cấu trúc bài thơ
Haiku này có nhịp 5–7–5:
閑さや (5)
岩にしみ入る (7)
蝉の声 (5)
や nằm ở cuối câu đầu (5 âm), tạo ra một khoảng ngắt (切れ) giữa:
Cảnh nền: "Sự tĩnh lặng..."
Hình ảnh chính: "Tiếng ve thấm vào đá."
Nhờ đó, bài thơ chia thành hai lớp:
Lớp tĩnh: sự im lặng tuyệt đối.
Lớp động: tiếng ve vang lên đến mức tưởng như thấm vào đá.
Điều thú vị là Bashō không nói "tiếng ve phá tan sự yên tĩnh". Ngược lại, tiếng ve lại làm cho người đọc cảm nhận sự tĩnh lặng sâu hơn. Chữ や chính là điểm chuyển giúp tạo nên hiệu quả nghệ thuật ấy, và vì thế được xem là một trong những ví dụ kinh điển về cách dùng 切れ字 trong thơ haiku.
*
*
*
(II) Ghi chú của người bạn ở Tokyo:
Bài haiku bạn nêu là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Matsuo Bashō.
Nguyên văn:
静けさや
岩にしみ入る
蝉の声
Tên tiếng Nhật mà người Nhật thường dùng để gọi bài thơ này là:
「閑さや」(しずかさや)
Lý do là:
Trong các tuyển tập hiện đại, câu đầu thường được viết là 静けさや (しずけさや).
Tuy nhiên, trong bản chép cổ và nhiều nghiên cứu văn học, chữ đầu là 閑さや (しずかさや), dùng chữ Hán 閑 mang nghĩa "tĩnh mịch, u tịch", sâu sắc hơn chữ 静 (yên tĩnh).
Theo thông lệ ở Nhật, thơ haiku không có nhan đề riêng, nên người ta gọi bài thơ bằng câu đầu (初句・発句). Vì vậy tên của bài thơ là:
閑さや(しずかさや) – cách gọi truyền thống.
静けさや(しずけさや) – cách viết hiện đại, phổ biến trong sách giáo khoa.
Ý nghĩa
閑さや(静けさや): Ôi, sự tĩnh lặng...
岩にしみ入る: thấm sâu vào đá.
蝉の声: tiếng ve.
Một bản dịch tiếng Việt sát nghĩa:
Ôi, tĩnh lặng!
Tiếng ve thấm sâu
Vào trong đá.
Đây được xem là một trong những bài haiku tiêu biểu nhất của Bashō, được sáng tác năm 1689 khi ông viếng Ryūshaku-ji (thường gọi là Yamadera) trong chuyến hành trình nổi tiếng được ghi lại trong Oku no Hosomichi.
*
Tuesday, July 21, 2026
Berthillon 3.0
![]() |
| Hình Internet |
Wednesday, July 15, 2026
Khát nước
![]() |
| Hình Internet |
"Thời gian tựa cánh chim bay,
qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?"
====
Cf. [Hoài cảm]
Tác giả: Cung Tiến
Trình bày: Lệ Thu
https://m.youtube.com/watch?v=NOpObFJwXk0
dtk@hdc.com 25/06/2026
[Phụ lục]
Bình cắm nhang bắt muỗi
@Gemini
1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
飛んで火に入る夏の虫
(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
2. Giải nghĩa tiếng Việt:
Ý nghĩa đen:
飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
火 (Hi): lửa, ngọn lửa
に (Ni): vào, hướng đến
入る (Iru): đi vào, chui vào
夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
Nó ám chỉ:
Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
Gemini
1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
飛んで火に入る夏の虫
(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
2. Giải nghĩa tiếng Việt:
Ý nghĩa đen:
飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
火 (Hi): lửa, ngọn lửa
に (Ni): vào, hướng đến
入る (Iru): đi vào, chui vào
夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
Nó ám chỉ:
Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
khát nướ
photo 1yy
@@Gemini
1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
飛んで火に入る夏の虫
(Tonde hi ni iru ntsu no mushi)
2. Giải nghĩa tiếng Việt:
Ý nghĩa đen:
飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
火 (Hi): lửa, ngọn lửa
に (Ni): vào, hướng đến
入る (Iru): đi vào, chui vào
夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
Nó ám chỉ:
Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
Gemini
1. Nhận dạng OCR chữ Nhật (Hòa văn):
飛んで火に入る夏の虫
(Tonde hi ni iru natsu no mushi)
2. Giải nghĩa tiếng Việt:
Ý nghĩa đen:
飞んで (Tonde): bay (ở thể nối)
火 (Hi): lửa, ngọn lửa
に (Ni): vào, hướng đến
入る (Iru): đi vào, chui vào
夏の虫 (Natsu no mushi): côn trùng mùa hè
Kết hợp lại: "Côn trùng mùa hè bay lao vào lửa."
Ý nghĩa bóng và tục ngữ:
Đây là một câu tục ngữ Nhật Bản rất phổ biến, tương đương với thành ngữ tiếng Việt: "Thiêu thân lao vào lửa".
Nó ám chỉ:
Hành động của một người nào đó, do thiếu hiểu biết, quá hăng hái, hoặc bị cám dỗ, mà tự rước lấy tai họa, nguy hiểm, hoặc thậm chí là cái chết mà không nhận ra hậu quả.
Thể hiện sự dại dột, bất chấp hiểm nguy để theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn hoặc một ảo vọng.
Thursday, July 2, 2026
Alain-Fournier
Le livre unique d’Alain-Fournier, mort au front en 1914, à moins de 28 ans, figure dans la Pléiade. C'est une entrée inédite, car aucun auteur d'un seul livre n'avait eu droit à une publication dans cette prestigieuse collection, réputée pour publier les œuvres complètes (ou quasi complètes) des écrivains du patrimoine littéraire mondial. Devenu à jamais l'auteur d'un livre unique publié en 1913, qui a, cette année-là, manqué le Goncourt d'une seule voix. Ce roman totalisait à la fin du siècle dernier plus de quatre millions d’exemplaires vendus.
Ce chef-d'oeuvre intemporel, roman d'amour troublant, demeure l'un des livres français les plus lus au monde. Il est l'œuvre littéraire française la plus traduite et lue dans le monde juste après « Le Petit Prince » de Saint-Exupéry.
À 18 ans (en 1905), Alain-Fournier croise par hasard Yvonne de Quiévrecourt, jeune femme « blonde, élégante, élancée » et en tombe éperdument amoureux. Il la reverra brièvement huit ans plus tard en 1913 (elle est désormais mariée et à deux enfants). Il lui avoue son amour malheureux et ose lui remettre une lettre (non envoyée) qu'il lui avait écrite.
« Un long roman que j'achève et qui tourne tout autour de vous, de vous que j'ai si peu connue, paraîtra cet hiver », lui annonce-t-il. « Les plus beaux jours de ma vie sont ceux où j'ai pensé le plus ardemment à vous ».
Qu'a-t-elle pensé du roman ? Nul ne le saura jamais. Yvonne de Quièvrecourt a disparu à 79 ans en 1964, sans jamais s'exprimer.
Tham khảo
#alainfournier #LeGrandMeaulnes #lapléiade
Tuesday, June 23, 2026
chiều một mình qua phố
Wednesday, May 27, 2026
buổi sáng trời mưa
[ed. 04/05/2026 13:45]
sáng mới ra khỏi cửa
mưa đã nặng hạt rồi
mũ dù thêm khăn gói
ta lên đường đi thôi
métro giờ vắng người
đường hầm dành riêng tôi
Paris đất văn vật
nghệ thuật cùng lên ngôi
phố phường loang loáng nước
xe cộ chạy như hươu
dù giăng ra mỗi bước
áo vàng đỏ xiêu xiêu
lá xanh cây tắm gội
giọt rơi mát má môi
trời tháng 5 diệu vợi
đây địa đàng của tôi
***
@Gemini AI chuyển ngữ
sang Hán văn và Anh văn.
1. Hán văn (Phồn thể) - 漢文
晨雨
thần vũ
.
晨起初開戶,
thần khởi sơ khai hộ,
大雨已傾城。
đại vũ dĩ khuynh thành。
披巾執傘去,
phi cân chấp tán khứ,
獨向遠方行。
độc hướng viễn phương hành。
地鐵人煙稀,
địa thiết nhân yên hi,
幽廊我自歸。
u lang ngã tự quy。
巴黎文物地,
Ba Lê văn vật địa,
藝術共騰飛。
nghệ thuật cộng đằng phi。
街市含餘潤,
nhai thị hàm dư nhuận,
車如鹿走忙。
xa như lộc tẩu mang。
繽紛傘影亂,
tân phân tán ảnh loạn,
紅袖間金黃。
hồng tụ gian kim hoàng。
綠葉經新沐,
lục diệp kinh tân mộc,
珠璣拂面涼。
châu ki phất diện lương。
五月天如幻,
ngũ nguyệt thiên như huyễn,
此處即天堂。
thử xứ tức thiên đường。
2. English Translation
Anh văn
.
A Rainy Morning
.
Stepping out at break of dawn,
The rain is already falling fast.
With hat, umbrella, and bags in hand,
I set off on my way at last.
The Métro is empty at this hour,
The tunnels belong to me alone.
In Paris, land of heritage and lore,
Where art and life share a throne.
The streets are slick with shimmering light,
Traffic darts like deer through the spray.
Umbrellas bloom along every path,
Yellow and red coats swaying away.
Green leaves bathed in the morning wash,
Cool droplets brush my lips and face.
The distant charm of a bright May sky,
My own paradise, this very place.
====
dtk@hdc.com 04/05/2026 13:45



































