Friday, February 9, 2024

Lăn dưa

 
ĐỌC XONG ĐẦU ĐỀ BÀI TOÁN ĐỐ, xơ Agnès đứng dậy, lấy tay vén tà áo tu màu trắng bước xuống bục gỗ, đi thẳng lại sau lưng chỗ Là ngồi ở dãy bàn đầu. Là tập trung tinh thần cố gắng hiểu từng câu từng chữ đề bài. Những con số quay mòng mòng trong óc Là, tối hu hu như đêm 30 Tết. Không quay đầu lại nhưng Là vẫn cảm thấy sự hiện diện của bà xơ đè nặng trên mình. Lần nào cũng vậy, tới giờ toán, Là khổ sở hết sức. Biết Là dở toán, xơ Agnès bắt Là ngồi ở hàng ghế đầu để kèm ráo riết...
— Đọc lại đầu bài coi!
Là giật bắn người, vội vàng lầm rầm đọc lại bài toán đố không biết đến lần thứ mấy. Một lúc sau thấy Là lại làm thinh không phản ứng gì cả, xơ Agnès nóng nảy vạch ngang dọc ngón tay trỏ lên cuốn tập của Là, cắt nghĩa:
— Lấy cái nầy nhơn với cái nầy rồi chia với cái kia. Bộ không hiểu sao?
— Dạ hiểu...
— Rồi sao nữa?
— ...
Sau cùng thì bà xơ làm trọn bài toán đố, Là chỉ còn phận sự lò dò chép lại lời giải. Lúc bà xơ trở lên bàn viết, Là mới cảm thấy nhẹ nhõm cả người. Là liếc mắt nhìn lên thấy xơ Agnès sửa nhẹ lại sợi dây lưng thắt lấy cái eo thon của bà trước khi nhẹ nhàng ngồi xuống ghế. Là lại bắt gặp dáng điệu quen thuộc đã thấy nhiều lần, xơ Agnès vừa nghiêng mái đầu, hơi chúm miệng cười với bóng mình trong tấm gương tròn nhỏ, đặt trong lòng bàn tay bà trên lớp khăn lụa mỏng.
Xơ Agnès thương Là lắm vì tánh ngay thiệt. Có gì sai bảo, xơ cũng kêu đến Là, đem hồ sơ cho mẹ bề trên, mang giấy tờ cho cha làm lễ ở bên nhà thờ, cạnh trường nội trú. Nhiếu lần xơ dẫn Là sang gặp cha, hai người rù rì nói chuyện rất lâu...
Trường làng ở Củ-Chi trình độ kém mà bà ngoại lại cho Là đi học thiệt trễ. Hồi mới vào nội trú trường dòng Thánh Phao-Lồ ở Lái-Thiêu nầy, Là bết bác quá cỡ. Là nhớ ơn xơ Agnès hoài hoài, nhờ có xơ kèm toán mà năm lên lớp Nhứt, Là không bị đuối. Cuổi năm thi Tiểu-học, Là mừng húm vì đề thi toán quá dễ, Là làm xong bài trước giờ hạn định. Tội nghiệp con nhỏ ngồi sau lưng, nó cứ đá bịch bịch vào ghế Là ngồi. Là cố ý ngồi nghiêng mình qua một bên. Con nhỏ chép lia lịa...
Trường nội trú tỉnh nhỏ rất nghèo, mà học trò nhiều đứa mồ côi được miễn học phí, các xơ phải nuôi heo, gà, vịt... làm thức ăn cho học trò. Có cả mấy con gà tây, dưới cổ lủng lẳng miếng da gai gai đỏ máu, lông đen, đuôi cong phồng lên, tiếng ục ục như mấy bà đầm. Đến bữa cơm, Là thường thích ăn cá. Những miếng cá hoặc làm mắm, hoặc chiên, hoặc kho, thịt săn chắc ăn hoài không ngán. Một hôm tình cờ, Là buột miệng hỏi Thu, con nhỏ bạn thân:
— Cá ở đâu ra đó mậy?
— Cá tra ở ngoài cầu đó.
— Ẹ ẹ...!
Là hoảng hồn phun cơm đang nhai trong miệng tung tóe ra bàn. Con Thu cười ngất. Í ẹ, mấy con cá Là ăn thì ra vớt ở trong ao chỗ đi tiêu nhà trường. Là nhớ một lần bị bịnh nóng sốt dữ dội, xơ Agnès nói với con Thu:
— Kêu nó xuống đây!
Bà bắt Là uống cạn một ly đầy thuốc xổ, mặn chát. Bịnh gì thì bịnh, uống thuốc xổ. Là đi cầu mấy bữa, cứt đen thui, mới rớt xuống mặt nước xanh rêu, lũ cá tra đã ào ào nhào lại rỉa rói, trong nháy mắt không còn gì nữa...
Gần Tết, xơ Agnès dẫn học trò ra chợ. Đó là những ngày vui nhất, rau trái ê hề. Là thích ăn những chùm củ sắn, lột lớp vỏ vàng còn dính đất để lộ ra cơm trái trắng nuốt, cắn vào dòn rụm, mát rượi ngọt tan trong cổ họng. Thiệt đã khát dưới trời nắng cháy chang chang. Nhiều vô kể là những núi dưa hấu cao ngất xếp thẳng hàng từ gian chợ này nay sang gian chợ kia. Những trái dưa hấu tròn to, màu xanh lục xậm, láng mướt làm quên đi cái nóng rát miền Nam. Thỉnh thoảng, một trái bổ đôi phơi lòng đỏ thắm...

photo: https://thanhnien.vn/cho-dua-hau-sai-gon-sat-tet-van-vang-khach-1851036390.htm

Lũ học trò ríu rít theo sau bà xơ dẫn đầu.
— Dạ chào «xưa» mạnh giỏi!
Xơ Agnès dừng chân bắt chuyện với một người nhà quê bán trái cây. Là chợt cảm thấy cái gì tròn tròn man mát dưới chân. Chưa kịp phản ứng, con Thu đã ghé vào tai thì thầm: «Chuyển ra phía sau!» Là làm theo như cái máy. Vừa thích thú vừa hồi hộp... Tánh Là không lấy của ai bao giờ. Một lần bắt gặp một đứa bạn cùng lớp chụp được một trái xoài tượng của ai bỏ quên, Là hỏi nó:
— Của mầy sao?
— Không. Lấy đại ăn chơi...
Con nhỏ gọt vỏ trái xoài còn xanh, chấm muối ớt vừa ăn vừa xuýt xoa, hỏi:
— Mầy ăn không?
 Hông.
Là trả lời, nước miếng ứa ra...
Nhưng lần «ăn trộm» nầy, Là không thấy sợ. Vả lại, ở thế chẳng đặng đừng. Liên tiếp năm sáu trái dưa hấu được lăn về phia sau, xen lẫn với những tiếng cười khúc khích.
Trên đường về trường nội trú, lũ học trò hè nhau đập những trái dưa hấu vào đất cứng, bể đôi, đưa lên miệng cạp ngồm ngoàm, kín cả mặt mũi.
Xơ Agnès sửng sốt hỏi:
— Dưa tụi bây mua hồi nào vậy?
Một đứa ngừng ăn, ngóc mỏ dính đầy dưa hấu đỏ trên má trên mũi, vừa cười vừa trả lời:
— Dạ, tụi con lăn.
Bà xơ lắc đầu, chắc lưỡi:
— Tụi bây về nhớ xưng tội, nghe hông!

ĐẶNG THẾ KIỆT
(Bordeaux, 28.05.1985)




Ghi chú
photo: dtk@hdc.com

Bài này đã đăng trên tạp chí Quê Mẹ số 67, tháng Chín năm 1985.





Monday, January 29, 2024


Ăn cơm xong, vợ chồng Hoàng ra ngồi hóng mát bên gõc cây sồi điển điển.
— Ô kìa! Con rùa! Con rùa!
Tiểng Lành thảng thốt làm Hoàng giật mình quay đầu lại, nhìn theo tay vợ chỉ. Trên sân cỏ nám vàng, nắng hè chói chang, thoạt đầu hoa mắt chàng không nhìn ra gi cả. Lành bước ra, để sát ngón tay vào một khối đen đen vàng vàng. Lúc đó Hoàng mới nhận ra quả thực có một con rùa, to hơn một bàn tay người lớn, đang gậm nhấm một trái chín rụng dưới gốc cây mơ. Con rùa trông dễ thương quá! Chàng bảo vợ:
— Lành vào kêu hai đứa nhỏ ra coi.
Nàng chắc cũng nghĩ như chồng, lật đật đi kiểm hai đứa con. Không phải đợi lâu, đã nghe tiếng ngưởi chạy lạo xạo trên sân sỏi từ nhà trước ra nhà sau.

photo: Internet

— Đâu? Đâu? Con rùa đâu?
Hai đứa nhỏ, một gái một trai, đua nhau hỏi rối rít. Con rùa cảm thấy bị đe dọa, bỏ trái mơ đang gặm dở, lủi chạy. Ai bảo «chậm như rùa». Con này nhanh gớm! Loáng một cái nó đã tới chân bụi trúc đào gần đó. Hoàng vội xòe tay nắm lấy cái mai, đặt con rùa vào giữa bãi cỏ. Hai đứa nhỏ thích chí cười vang. Con rùa càng thêm hoảng hốt, vừa được thả ra là cắm đầu chạy nhào về hướng mấy khóm cây um tùm. Chốc chốc, Hoàng lại phải chụp lấy nó bỏ vô giữa sân. Hải, — đứa con trai nhỏ sắp lên 10, — bắt đầu dạn dĩ, lấy hai tay khệ nệ bưng con rùa để về chỗ cũ, mỗi lần nó chạy ra xa. Hai ba lần, con rùa ngã chổng cẳng lên trời giãy giụa...
Hoàng trở vô nhà lấy máy chụp hình kỷ niệm. Con rùa này coi bộ không thích chụp hình. Mỗi lần Hoàng đưa máy lên nhắm, sẵn sàng bấm nút thì nó lại thụt đầu vô mai hoặc xoay mình đi hướng khác. Sau cơn kinh hoảng ban đầu, con rùa bây giờ bớt sợ, bò vô bụi dâu nhồm nhoàm ăn nốt mấy trái chín đỏ còn sót lại. Rồi lại bò tới đám rau sam, ngốn lá rào rạo. Lành nhận xét:
— Bộ nó bị bỏ đói hay sao mà ăn nhiều vậy!
— Ăn no khát nước, — Hoàng nói.
Hoàng bốc con rùa bỏ vô bồn tắm cho trẻ nít, không biết của ai để trên sân gạch. Bồn chứa sẵn nước, — chắc nước mưa đọng lại. Bốn người ngồi vây quanh, cười đùa chỉ trỏ. Con rùa cứ loi ngoi ngóc đầu ra khỏi mặt nước. Bé Yến, chị của Hải, nói:
— Chắc đây là loài rùa đất.
Hoàng đổ con rùa ra sân cỏ. Nó lò dò đi tới khu vườn hồng. Mới trung tuần tháng bảy mà hoa đã tàn gần hết, chỉ còn trơ lá và gai. Con rùa lại lấm nhấm ăn mấy lá rau sam lan đầy mặt đất. Lành bàn:
— Có thể là rùa hàng xóm đi lạc.
Gia đình Hoàng đến đây nghi hè. Ngôi biệt thự họ đang ở là do cha mẹ vợ cho mượn. Hoàng nói:
— Biết ai mà trả. Mai hỏi ông già xem sao.
Lành nhìn ra ngõ, thấy bóng người lui cui đang kiểm cái gì trong mấy lùm cây. Nàng nói để ra hỏi có phải họ đánh lạc con rùa chăng. Hai đứa nhỏ lo ngại ra mặt, sợ không giữ được con rùa. Nhưng không ai mất rùa cả.
Chơi một hồi cũng chán, hai đứa nhỏ bỏ đi chỗ khác. Vấn đề của Hoàng bây giờ là làm sao canh giữ được rùa. Vợ chàng tìm được một cái thùng gỗ đựng trái cây khá lớn. Hoàng úp thùng lên con rùa rồi chận trên một khúc củi to. Hoàng một minh ngồi ngắm rùa. Nhìn kỹ, mai nó chạm trổ ô vuông to, cạnh bốn phân. màu vàng viền đen, nổi vân tuyệt đẹp. Hoàng để ý con rùa cứ ngoai cổ đưa đầu ló ra mấy cái lỗ hổng. Ngó hai con mắt đen hinh trăng khuyết, buồn buồn, Hoàng động lòng trắc ẩn. Nhớ chuyện cổ tích thời thơ ấu. Có chàng thư sinh một hôm gặp người chài lưới được con rùa vàng rất đẹp. Chàng đem lòng thương xót, bỏ tiền mua, thả rùa về biển. Đêm ấy, có thần báo mộng rằng rùa đó là hoàng tử thần Kim Quy, đền ơn chàng cứu mạng, giúp chàng thi đỗ Trạng nguyên...
Tổi lên giường ngủ, Hoàng nói với vợ:
— Này Lành biết đâu không phải rùa thần.
Vợ chàng cười:
— Ồ, làm gì có chuyện hoang đường.
Đêm hôm đó, không có thần nào về báo mộng cả.
Sớm hôm sau, ông cha vợ nghỉ hè cách đó chừng 50 cây số, về nhà tìm cần câu cá, nhân tiện ghé thăm gia đình con rể. Hoàng kể chuyện con rùa, ông cho biểt ở vùng Provence-Côte d'Azur này người ta bắt được là thường.
Gần mười giờ sáng hai đứa nhỏ mới thức giấc. Vừa mở mắt, quên cả ăn sáng, đứa con trai chạy ra vườn tìm rùa rồi đem ra chơi trên sân sỏi. Con rùa bị lật tới lật lui đến tội nghiệp. Hoàng nói:
— Này Hải! Con có thích ai đem con lật lên lật xuống như vậy không?
Lúc đó, thằng bé mới gượng nhẹ với con rùa hơn một chút. Hoàng thấy con chơi như vậy không tiện, đi tìm một khúc dây dài ba thước. Chàng thắt hai vòng chung quanh thân rùa như một gói quà, còn đầu dây kia buộc vào gốc cây mơ. Nhưng con rùa kéo đi kéo lại một hồi, sợi dây lại tuột ra. Chàng theo lời khuyên của ông cha vợ, lấy máy điện khoan vào mai rùa một lỗ gần đuôi. Mai rùa rất cứng, và có lẽ chàng sợ rùa bị thương nên khoan không lủng. Tiểng máy é lên nhức óc làm thằng nhỏ xót ruột:
— Thôi! Bố đừng khoan nữa.
Sau cùng Hoàng nghĩ ra một cách. Chàng ra sau nhà, đẩy ba xe bù-ệt đầy củi đòn lớn bằng hai báp vế đàn bà, ra khu vườn hồng. Những cây củi dùng đốt suởi mùa đông. Chàng sắp bên cạnh những gốc hồng thành một cái chuồng lớn, chu vi hơn l0 thước. Thế mà con rùa chưa thỏa mân. Vừa bỏ vô nó đã hì hục gồng mình đủn mấy khúc gỗ to. Hoàng đứng cả giở xem nó xoay xở ra sao. Cử thế, con rùa đi hết một vòng, ra sức đẩy gỗ tìm lối thoát.
Nhưng rõ ràng là những khúc cây nặng quá sức rùa. Nhiều lần, nó thử leo hai chân trước lên khúc gỗ tròn nhưng đành bỏ cuộc. Không khéo đưa bốn vó lên trời, chỉ còn phương chờ chết. Hoàng yên tâm để hai đứa con chơi, không lo xổng mắt rùa.
Buổi chiều, trước khi đi tắm biển, chàng kiểm soát kỹ lưởng cái chuồng. Con rùa nằm im như một hòn đá dưới một hốc cây.
Trên đường lái xe ra biển, chàng vui miệng hỏi các con đã đặt tên cho rùa chưa. Hải muốn gọi rùa là Caroline, như trong một sách hình của nó. Chị Yến nó gạt đi bảo phải tìm ra một tên mới lạ. Lành nói:
— Kêu nó là Rùa cho rồi!
Cả nhà phì cười vì cái tên làm biếng đó. Hoàng đề nghị đặt tên «Mơ», — vì đã gặp rùa dưởi gốc cây mơ. Vấn đề đặt tên chưa ngả ngũ, mọi ngưởi đã bàn sang chuyện làm sao đem về nuôi ở vùng Paris. Lành tính mua rào và đá tảng làm chuồng cho rùa ở trong vườn. Hoàng lo ngại không biết khí hậu lạnh Paris có thích hợp với con rùa quen nóng ở miền Nam nước Pháp này không. Nhưng ra tới biển thì mọi ngưởi quên hết chuyện rùa, chạy ùa xuống nước.
Tắm biển xong về nhà, chưa kip đem phơi mấy tấm khăn ướt, Hoàng bỗng nghe tiếng vợ con xôn xao từ khu vưởn hồng vọng lại:
— Con rùa đi mất rồi! Con rùa đi mất rồi!
Chàng vội vàng chạy lại. Con rùa đã biến mất. Chàng nhìn kỹ từng góc kẹt, không thấy dấu vết con rùa đâu cả. Lạ nhất là những khúc củi không bị xê dịch chút nào. Bấy giờ Hoàng mới tin lời ông cha vợ là đúng. Giống rùa đất ở đây rất tài tình, chúng đến đi, biến hiện bất ngờ, ngưởi ta không biết đưởng nào mà canh giữ... Cả nhà chia nhau lục lọi trong những bụi cây. Khu vưởn rộng thênh thang đầy những bụi trúc đào nở hoa ba màu rực rỡ, — hồng, trắng, đỏ —, những khóm hoa bát tiên hinh cầu ba ngưởi ôm không xuể. Rồi trúc, sung, lựu... xum xuê. Vưởn này tiếp sang vườn kia gần như không ranh giới. Hoàng đứng trên sân thượng nhìn ra xa, không thấy nhà, chỉ thấy toàn một màu xanh lục của thông, khuynh diệp và sồi điển điển chạy dài tới biển.
Tiếng đứa con khóc tấm tức từ một bụi hoa vẳng lại làm Hoàng bồi hồi thương cảm. Song, đồng thời, một niềm vui len nhẹ vào lòng. Mơ đã tìm lại tự do. Mọi sự diễn ra tốt đẹp, đúng như chàng thầm uớc ngay lần đầu gặp gỡ.


Đặng Thế Kiệt
Saint-Tropez, tháng 7 1986
(QUÊ MẸ SỐ 80 - THÁNG 4. 1987)




Ghi chú

Bài này đã viết lại theo trí nhớ, năm 2020, khi đó chưa tìm được bản gốc trên báo Quê Mẹ, năm 1987.




 

Saturday, January 27, 2024

Ông đồ của Vũ Đình Liên (1936) và người bộ đội già bán rế tre (2024)

 
Bài thơ hoài cổ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là một bài thơ mà tôi rất thích, đọc lần đầu trong sách giáo khoa Việt văn năm đệ Lục (khoảng năm 1962). Thích đến nỗi, khi kèm học em trai ở nhà, tôi dạy nó 8 câu đầu:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay”


Image: https://download.vn/doan-van-cam-nhan-ve-nhan-vat-ong-do-50013

Nhưng không thể nào nói hết được nỗi niềm thất vọng mênh mông, khi đọc tin sau biến cố tháng Tư 1975, Vũ Đình Liên theo phái đoàn Tố Hữu từ Bắc vô Nam. Trong một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật miền Nam, Vũ Hoàng Chương đã được mời tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu (đã làm để khóc Stalin khi ông này chết vào năm 1953):
 
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười

Sau lời thẩm định dứt khoát của Vũ Hoàng Chương về bài thơ này (vô giá trị, — vì hoàn toàn dối trá), Vũ Hoàng Chương bị bắt. Và chết năm 1976 ở Gác Bút, nhà riêng của ông, sau khi được ra khỏi ngục Chí Hòa. Tham khảo: (*1)

Hôm qua, tình cờ xem được trên Internet Facebook, tấm hình chụp một người bộ đội già ngồi bán rế tre ở một góc đường hình như ở Hà Nội, tôi liên tưởng ngay đến bài “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên.


photo: Facebook
Năm nay đào sắp nở
Chợt thấy ông đội già
Bày rế tre giấy đỏ
Bên đường xe chạy qua

Không thấy người ghé lại
Hỏi xem bán gì đây:
"Rế tre đẹp lắm đấy
Ai đan thật khéo tay"

Nhưng sao hàng thưa vắng
Người làm bếp nay đâu?
Giấy đỏ cuộn chi lắm
Nón cối buồn cúi đầu

Bộ đội già ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Bụi đường rơi trên giấy
Trên đường ô-tô bay

Vũ Đình Liên, ta hỏi:
Làm thơ ông đồ xưa
Nay Chủ Nghĩa Xã Hội
Thiên đường sao vẫn chưa?

(2024-01-26)




Ghi chú

ô-tô: thông dụng tại miền Bắc. Trở nên rất phổ biến tại miền Nam sau 1975. Trước đó, người miền Nam thường dùng từ "xe hơi". (*2)


Tài liệu tham khảo

(*1)
https://vietbao.com/a314954/nha-tho-vu-hoang-chuong-nhung-he-luy-cuoi-doi#:~:text=Nhà%20thơ%2C%20nhà%20giáo%20Vũ,17%20tháng%209%20năm%201976.
Vương Trùng Dương
(Little Saigon, Feb 14, 2023)

(*2)
https://fr.wiktionary.org/wiki/ô_tô
ô tô:
Étymologie
Du français auto [1].
Nom commun 
Automobile; voiture; auto.
Synonymes
xe hơi
Paronymes
ô-tô
Références
Free Vietnamese Dictionary Project, 1997–2004 → consulter cet ouvrage
[1] Mark J. Alves. 2011. Loanwords in Vietnamese. In Martin Haspelmath and Uri Tadmor (eds.), Loanwords in the world’s languages: a comparative handbook, 617-637. Berlin: Mouton, page 637.




Wednesday, January 17, 2024

đi chợ trời mưa

 Sáng nay trời lạnh và mưa, đến khu chợ trời phố Tàu trước siêu thị Paris Stores, thấy vắng teo.
Thường thường ở đây, trên vỉa hè rộng, trải dài khoảng một trăm mét, lúc nào cũng lố nhố kẻ đứng người ngồi, bán rau cỏ bánh trái tấp nập.
Tôi để ý ngay một bịch giấy to, đựng đầy bánh mì, đặt trên một bờ tường thấp, trước lối vào những cửa tiệm trên lầu.
Một ông sư khất thực, mặc áo nâu sồng, đứng bên trái, nói với tôi câu gì nghe không rõ. Nhưng nhìn ánh mắt của ông, tôi hiểu ý ông bảo tôi đây là của bố thí, ai muốn lấy ăn thì lấy. Ở đây, người ta chết lạnh chứ không chết đói.
Nhà sư này tôi thấy lần đầu. Từ hơn hai chục năm nay, tôi vẫn gặp ngay chỗ ông đứng, hoặc bên gốc cây đối diện, một bà sãi mặc áo cà sa màu nghệ "đóng đô" thường trực ở chợ trời này.
Hình như tôi chưa biết bố thí bao giờ, nên hỏi ông sư: 
"Thầy ở chùa nào vậy?"
Ông sư đáp: 
"Không có chùa nào hết."
Vì không có sẵn thức ăn trong tay, tôi hỏi:
"Dạ, bố thí bằng gì được?"
Ông sư nói gì không rõ, nhưng tôi hiểu là cho tiền cũng nhận. Tôi moi ví, còn tờ 5 euros, bỏ vào cái khay bằng đồng nhà sư vừa đưa ra. Nghe ông lí nhí nói cảm ơn.
Tôi theo nhà tôi đi lên lầu theo những hành lang tiệm ăn, nhà bán thịt, cửa hàng nữ trang, v.v. 
Chợt thấy trong tủ kính một món hàng ngộ ngộ. Thoạt nhìn, tưởng là một bình trà bằng sứ. Nhưng xem cái mõm con heo mở tròn xoe, thì không hợp lý. Đọc lõm bõm mấy chữ Nhật trên hông con heo sứ trắng, mới hay cái này dùng để cắm nhang bắt muỗi mùa hè. Giữa trời đông giá, bán đồ dùng cho trời nóng nực, kể cũng lạ.

(viết tiếp 2014-01-18 12:08)

Hai vợ chồng dẫn nhau ra ngoài sân thượng, rẽ qua hành lang bên trái, đến quán Phở 13. Dạo này, nhà tôi làm biếng nấu bếp, chúng tôi thường ra ăn ngoài tiệm. Cả mấy chục nhà hàng ăn món Việt ở Paris, chúng tôi đã đến gần hết. Giở tới giở lui tờ thực đơn, quanh đi quẩn lại mấy món chả giò, phở bò, chả cá Hà Nội, bún bò Huế, mì Quảng, bánh tôm Hồ Tây, v.v., riết không biết chọn gì nữa. Ăn xong, xuống lại avenue d'Ivry, đi về phía tiệm Khai Trí, nhà tôi vào mua hai khúc bánh mì sandwich kiểu Việt Nam, đem về nhà để dành ăn tối.
A, cái tiệm Khai Trí này, cách đây hơn 10 năm, còn là quán sách tiếng Việt cuối cùng ở Paris. Chẳng biết cái tên có liên quan gì với nhà sách Khai Trí đường Lê Lợi Sài Gòn trước 1975. Nơi mà tôi thường say mê đến coi sách cọp thời xưa ở trung học. Tuy nhiên bây giờ, trong tiệm ở đây, vẫn còn một quầy nhỏ bày bán vài chục cuốn sách cũ kỹ từ mấy mươi năm trước. Nhớ năm ngoái, tôi tình cờ mua được cuốn tiểu thuyết Kỷ Niệm Với Mỵ Ánh của Lê Thị Huệ (Gió-O, 1987), giá 6.50 $. Tôi  thấy truyện rất hay, kể lại thời kỳ tác giả đang theo học ở Đại Học Văn Khoa Đà Lạt trước sau biến cố 1975. Dưới hình thức "hư cấu lập thể", theo lời kể của một nhân vật phái nam tên Quang, ghi lại không khí lãng đãng lãng mạn của Đà Lạt sương mù, trong những ngày tháng đó, với những bạn trẻ đó, nhìn nhân vật nữ chính trong truyện là Mỵ Ánh, — một sinh viên văn chương xinh đẹp, đam mê, sôi nổi, sống với sự thật không nhân nhượng
Tôi nhớ mãi đoạn cuối, Mỵ Ánh lúc đó đang đứng bán ở một chợ trời Sài Gòn, nói với Quang, hình như chỉ ít lâu trước ngày Mỵ Ánh vượt biển sang Mỹ: 
Ánh xòe tay ra. Bàn tay của nàng gầy và xanh. Vành môi nhấp nhô. Cười nửa miệng. Nói với một giọng trầm trầm nhưng vẫn ào ạt như ngày nào.
— Phải đùa một tí vậy mới được, Ánh nói. Đời sống có khi phải biết đùa giỡn tí xíu vậy mới mỉm cười được vào những nghịch lý của nó, mới tha thứ nổi cho mình, rộng lượng nổi với đời. Có gì đâu. Còn hơi thở là còn đường binh mà. Bạn thân.

Chúng tôi ra về, qua avenue de Choisy. Vỉa hè loang loáng nước mưa, dưới hàng cây trụi lá. Nhà tôi mang dù đi lút thút dưới mưa, bóng ngày vút qua như mộng. 
Chợt nhận thấy hai đứa đã bước vào mùa đông cuộc đời. Ờ thì xuân, hạ, rồi thu...
Bài blog chưa xong, đăng trên Facebook. Cô bạn nhà văn ở Le Havre vô đọc và viết một câu tuyệt cú mèo cuối năm Quý Mão:
Trời tuyết lạnh nhà nước kêu nằm nhà mà ông đi chợ!
Mua được gì chưa, thơ mấy câu? 
Vắng người lui tới chợt dâng sầu.





Ghi chú
photos dtk 2024-01-17



Tuesday, December 12, 2023

cánh chim mùa thu


photo 2023 dtk@hdc.com


Sáng nay lái xe đưa nhà tôi có việc ở Montparnasse, tôi đậu xe và đi bộ ra nhà ga trong khi chờ đợi.
Chỉ còn hơn mười ngày nữa là tới Noël, người ta tấp nập sửa soạn đi về tụ họp với người thân. Một con chim bồ câu bay vút lên cao trời mây xám.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Hai vợ chồng dẫn nhau đi ăn trưa ở một tiệm Nhật gần đó. Tiệm ăn nhỏ, nhưng sạch sẽ, lại trang trí hoa đèn, mang không khí giáng sinh. Nhìn qua cửa kính, xe cộ và người qua lại, mang dù hay không, ũm thũm dưới mưa, với hàng cây lá vàng run rẩy.
Nhà tôi muốn ghé siêu thị Thanh Bình Jeunes ở gần Porte de Choisy quận 13. Siêu thị này lụp xụp so với những siêu thị lớn của người Tàu. Nhưng nhà tôi bảo ở đây có bán bưởi xanh chở máy bay từ Việt Nam sang.
Tôi đứng lớ ngớ trong sân đậu xe. Bỗng một ông già tóc trắng, râu ria tua tủa, rõ ràng một người thuộc loại "kẻ không nhà", — tiếng Pháp gọi là sdf (sans domicile fixe) —,  lại trước mặt tôi, quơ tay múa chân nói năng lia lịa.
Ông ta vạch áo, phơi hai cánh tay, lưng, bụng và hai ống chân, sần sùi như da cóc. Tôi cố gắng nghe, vì ông ta nói tiếng Pháp với giọng, hình như của người Đông Âu thì phải, rất nặng tai. 
Định thần một lúc, thì tôi hiểu ông ta muốn xin tiền mua thức ăn và mua thuốc chữa bệnh ung thư. Ông kể lể có mấy đứa cháu nhỏ, sống chui rúc trong một xó xỉnh gần đây.
Tôi nghĩ đến một đoạn trong tiểu thuyết Notre-Dame de Paris của Victor Hugo. Vào thời trung cổ, ở đảo Cité giữa dòng sông Seine, có những tên giả làm ăn mày, mù mắt, què tay, thọt chân, v.v., đứng các ngả đường, ban đêm về xóm, ca hát nhảy múa chửi bới nhau trong những quán rượu hàng ăn.
Tôi lấy tờ giấy bạc mười euros đưa cho ông già sdf, nhưng ông ta lắc đầu bảo không đủ mua hộp thuốc. Tôi moi túi được thêm năm euros. Ông ta cầm lấy và bảo tôi đi với ông ra một tiệm pharmacie người Tàu trên đường cạnh đấy, vẫn thường bán cho ông, tên thuốc gì đó tôi nghe không rõ.
Tôi không tỏ vẻ nghi ngờ gì cả, nhưng ông ta dẫn tôi ra một góc tường, tụt quần rớt xuống đất, lộ nguyên bộ mông trắng và hai ống chân ghẻ lở, bảo tôi chụp hình. Câu văn của Vũ Trọng Phụng bỗng lọt về trong trí nhớ: "chiếc quần lĩnh đánh tròng." Ở đây chẳng có cái quần lĩnh nào cả. Ông già sdf kéo quần lên, mở cái bụng phồng da cá sấu cho tôi xem thêm.
Vào tiệm pharmacie, người bán thuốc có vẻ quen mặt ông già sdf, nhưng một mực nói không có thuốc kia. Ông già sdf bảo tôi cùng đi đến một pharmacie khác ở Porte d'Italie, cách đó 5 phút đi bộ, vừa đi vừa kể huyên thiên chuyện thái tử Siddartha nào đó, từ bỏ vua cha, ngồi bảy năm dưới gốc bồ đề, rồi bay lên trời. Hóa ra ông ta cũng biết chuyện về đức Phật ngày xưa của nhà văn Hermann Hesse.
Trên vỉa hè loang loáng nước mưa, ngang qua một cái thùng rác, trông thấy một cái áo blouson ai bỏ, ông ta cầm lấy, đo lên mình phía trước phía sau, coi bộ không vừa ý nên vứt trở lại. Nhiều lần ông ta đưa tay cho tôi bắt, tôi cũng hơi ớn ớn vì sợ lây bệnh.
Rốt cuộc đến chỗ pharmacie thứ hai, vào trong, mấy nhân viên bán thuốc người da đen đều tỏ vẻ nhận ra ông. Ông ta nói tên thuốc và bảo muốn mua hai hộp. Tôi hỏi giá mỗi hộp là 36 euros vài chục centimes, bảo ông già lấy ra 15 euros tôi cho lúc nãy và tôi sẽ dùng thẻ tín dụng trả thêm, cho đủ tiền mua một hộp thôi. Ông ta chỉ đưa ra 10 euros. Người bán thuốc nói với tôi tháng nào ông này cũng làm một mửng như vậy.
Tôi bỏ ông ta ở đấy, đi về siêu thị Thanh Bình Jeunes, đúng lúc nhà tôi vừa gọi điện thoại tìm tôi.
Một người già trong công viên
Một người điên trong thành phố...
trích: Ngày Dài Trên Quê Hương
Có những kẻ co kéo chữ nghĩa hay thế nhỉ, — những tay "phù thủy ca từ". Nhưng tài mà để làm gì? Đem cho những thế lực quỷ quái tinh ma, xí gạt nhân dân, đưa đẩy đất nước vào vòng lao lụy không lối thoát, gần nửa thế kỷ rồi? 
"Có tài mà cậy chi tài, 
Chữ tài liền với chữ tai một vần."
(Nguyễn Du)


Ghi chú

Gia Tài Của Mẹ

Trước 1975, nghe bài hát này, tuổi trẻ Miền Nam mất hết lòng tin, không còn tinh thần chiến đấu.
Sau 1975, cả nước Việt Nam rơi vào chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, mất hết độc lập tự do. Nghe lại bài này thấy lời lẽ vẫn đúng.
Nhắm đúng vào những kẻ chủ trương gây cuộc chiến tranh tương tàn, dù bây giờ thắng cuộc, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cái "Tai Họa đổ xuống dân tộc Việt Nam", đã gần nửa thế kỷ rồi.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, để lại cho con
Gia tài của mẹ, là nước Việt buồn
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ
Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan
Gia tài của mẹ, nhà cháy từng ngàn
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một bọn lai căn
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình
Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù



(dtk, 2023/12/13)

Monday, December 4, 2023

sur les quais du vieux Paris

 
Juliette Gréco (1927-2020) : " Sur les quais du vieux Paris, le long de la Seine, le bonheur sourit... " 

photo Internet

Quand doucement tu te penches
En murmurant c'est dimanche
Si nous allions en banlieue faire un tour
Sous le ciel bleu des beaux jours ?
Mille projets nous attirent
Mais, dans un même sourire
Nous refaisons le trajet simple et doux
De nos premiers rendez-vous
Sur les quais du vieux Paris
Le long de la Seine
Le bonheur sourit
Sur les quais du vieux Paris
L'amour se promène
En cherchant un nid
Vieux bouquinistes
Belles fleuristes
Comme on vous aime
Vivant poèmes
Sur les quais du vieux Paris
De l'amour bohème
C'est le paradis
Tous les vieux ponts nous connaissent
Témoins des folles promesses
Qu'au fil de l'eau leur écho va conter
Aux gais moineaux effrontés
Et, dans tes bras qui m'enchaînent
En écoutant les sirènes
Je laisse battre, éperdu de bonheur
Mon coeur auprès de ton coeur
Sur les quais du vieux Paris
Le long de la Seine
Le bonheur sourit
Sur les quais du vieux Paris
L'amour se promène
En cherchant un nid
Vieux bouquinistes
Belles fleuristes
Comme on vous aime
Vivant poèmes
Sur les quais du vieux Paris
De l'amour bohème
C'est le paradis


khi anh cúi xuống dịu dàng
thì thầm chủ nhật thưa rằng hôm nay
chúng ta đi một vòng này
dưới trời xanh đẹp vùng ngoài em ơi?
muôn hành trình rất mê tơi
nhưng hai đứa chỉ mỉm cười nhìn nhau
nhớ bờ sông hẹn ban đầu
Paris cổ kính mộng màu xanh tươi
dòng Seine hạnh phúc nụ cười
tình yêu dạo bước đâu nơi ấp tình
này nhà bán sách thùng xanh
những cô nàng đẹp nhánh cành bán hoa
yêu làm sao các bạn ta
những bài thơ mộng chan hòa thành xưa
địa đàng tình ái giang hồ
những cây cầu cổ biết thừa chúng ta
chứng bao lời ước kiêu xa
dòng trôi tiếng dội kể ra lắm điều
chim non dạn dĩ bao nhiêu
trong tay em kéo tôi chiều theo em
ngư nhân tiếng hát êm đềm
hai tim hạnh phúc say mềm bên nhau
bờ sông êm ái nghiêng đầu
Paris cổ kính mộng màu xanh tươi
dòng Seine hạnh phúc nụ cười
tình yêu dạo bước đâu nơi ấp tình
này nhà bán sách thùng xanh
những cô nàng đẹp nhánh cành bán hoa
yêu làm sao các bạn ta
những bài thơ mộng chan hòa thành xưa
địa đàng tình ái giang hồ
là đây hạnh phúc bên bờ đá xanh

(dtk dịch)





Wednesday, November 22, 2023

lối thiên thai

... Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
   Nửa năm tiên cảnh,
   Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
   Đá mòn, rêu nhạt,
   Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
   Cửa động,
   Đầu non,
   Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi...

Tản Đà (1889-1939)

-----
Năm học lớp Đệ Nhị, làm luận văn bình giảng bài từ khúc này, được thầy Vũ Hoàng Chương (1915-1976) chấm 12/20 với một cái khuyên [*1] đỏ bên lề.

Hôm nay, anh mayvienphuong@huediepchi.com gửi cho xem bức hình "Hạc trắng", vụt nhớ lại bài từ khúc của Tản Đà.

photo mayvienphuong@hdc.com 2023 Arizona (USA)

-----
2023-11-22
Tái bút

Hôm qua đang ở chốn Thiên Thai, hôm nay trở về phố thị, hóa ra cũng như ở địa đàng (Eden).

Một con chim bồ câu chạy đến bên trạm xe buýt, mổ mấy vụn bánh mì rớt trên mặt đất. Nhà tôi bảo kiếp sau làm chim chắc sướng chứ...

Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm con chim nhạn tung trời mà bay.

(Tản Đà) 
[*2]

photo dtk@hdc.com 2023 Paris (France)

Ờ, tôi cũng đồng ý. 

Nhất là, vừa về tới nhà, lại nhận được một tấm ảnh đẹp của một chị bạn ở xa, chụp chim ăn hồng vườn nhà chị. 

photo nhuy@gmail.com 2023 Nancy (France)



(dtk, 2023-11-22)



Ghi chú

cf. http://www.vietnamtudien.org/hanvietv2/

[*1] khuyên
♦(Động) Đánh dấu vòng tròn nhỏ cạnh câu văn, cho biết câu văn hay. ◎Như: khuyên điểm 圈點 đánh dấu khuyên và dấu điểm ghi chỗ văn hay. ◇Hồng Lâu Mộng 紅樓夢: Phàm hồng quyển tuyển đích, ngã tận độc liễu 凡紅圈選的, 我盡讀了 (Đệ tứ thập bát hồi) Những bài (thơ) tuyển có khuyên đỏ, em đọc cả rồi.

[*2] Tôi nhớ sai vài chữ, nguyên văn như sau:
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm đôi chim nhạn giữa trời mà bay.

(Tản Đà)





Saturday, November 18, 2023

Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên... và Staline


Đầu tháng Ba 1953, tại Việt Bắc, được tin lãnh đạo Liên Xô J. Stalin qua đời, tạp chí VĂN NGHỆ của Hội Văn nghệ Việt Nam đã ra số đặc biệt (s. 40, tháng Ba 1953) về J. Stalin, trong đó có bài của Hồ Chí Minh, thơ của Chế Lan Viên, Huy Cận, Tố Hữu, Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Xuân Diệu, Lê Thái, văn của Nguyên Hồng, Phan Khôi, Lê Đạt, Hoàng Trung Thông, Minh Tranh.

Để dư luận khỏi nhận định rằng, dường như DỊP ẤY chỉ có bài thơ "Đời đời nhớ Ông" của Tố Hữu, dưới đây tôi đưa lại các bài thơ của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, cũng đăng trong Văn nghệ số 40 (tháng 3/1953) ấy.
LẠI NGUYÊN ÂN

——————————-



STALIN KHÔNG CHẾT

 

Stalin mất rồi!
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài!
Tin dữ truyền đi
Nỗi đau xé cắt
Vạt áo nhân dân thấm đầy nước mắt
Dao đâm qua triệu triệu tim người
Nhớ bài thơ Nê-ruy-đa cũ
Ca ngợi đêm khuya phòng điện Krem-lin
Vời vợi bóng đèn sáng tỏ
Có một người đêm khuya không ngủ
Thức canh cho thế giới hòa bình
Đồng chí Sta-lin đó!
Sta-lin nay không còn nữa!
Vắng vẻ dáng hình lãnh tụ
Một vừng ráng đỏ
Vĩnh viễn hòa trong xa xanh.
Đồng chí Sta-lin ơi!
Đồng chí Sta-lin không chết.
Đế quốc rồi tuyệt diệt 
Thế giới ta còn nguyên vẹn mặt trời.
Anh đội viên sẽ kể:
Máu của tôi ra nhiều
Trong đạn lửa tôi bỗng nghe: “Đồng chí!”
Ngửng mặt nhìn lên, thấy hình Thống chế,
Mắt tôi hoa trong trong mắt của mặt trời.
Máu tôi ra nhưng máu lại thêm rồi…
– “Xung phong! Giết, giết!”
Ai tung tôi qua bảy tầng giây thép
Sta-lin là tiếng thét
Sta-lin thành bộc lôi (1)
Sta-lin!
Trăm lưỡi mác sáng ngời
Cháy tan vị trí, (2)
Cờ đỏ mọc lên
Trong cờ đỏ tôi thấy hình Thống chế,
Giai cấp chúng ta quang vinh là thế,
Nhìn chiến công tôi, Thống chế mỉm cười.
Mẹ hiền ta ơi!
Em bé ta ơi!
Đồng chí Sta-lin không bao giờ chết!
Cộng sản là mùa xuân,
Cuộc đời là bất tuyệt,
Đảng chúng ta là núi thép
Mỗi chúng là một giọt máu Người
Chúng ta còn,
Sta-lin còn mãi mãi…
Triệu triệu mẹ già, em dại
Đều là súng Sta-lin để lại
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời.

Tháng 3.1953

CHẾ LAN VIÊN

Nguồn:

Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 74-75

CHÚ THÍCH:

(1) bộc lôi: như “bộc phá”
(2) vị trí: ở đây nghĩa là đồn địch.

————————————————-

THƯƠNG TIẾC ĐẠI NGUYÊN SOÁI STA-LIN

 
Đại Nguyên soái Sta-lin đã mất
Tin rụng rời đến với chúng tôi
Cả thế gian như bỗng mất mặt trời
Ba trăm người chúng tôi trào nước mắt
Đứng lên, ngực nghẹn ngào tiếng nấc
Sta-lin, cha vĩ đại của loài người!
Liên Xô giờ đau đớn biết bao nguôi
Và Trung Quốc, Việt Nam và trên khắp cả cõi đời
Từ Nam Mỹ cho đến ngoài Bắc Cực
Những người mến nhân dân và Tổ quốc
Những người mong làm lụng giữa hòa bình
Nghìn triệu người thương khóc Sta-lin
Người xa cách chúng con ngàn vạn dặm
Lời chỉ nghe trên sách báo mà thôi
Mặt chỉ trông trên bức ảnh mỉm cười
Nhưng mà thật thấm nhuần bao trìu mến
Nghe tin mất, mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm, miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh,
Việt Nam mang công đức của Người s
Vẫn mong Người hơn trăm tuổi dài lâu
Bền như núi, lãnh đạo toàn thế giới
Đời đời sống Sta-lin mãi mãi
Lời khóc Cha như lời chúc thọ Cha
Sta-lin, gương vĩnh viễn không già
Thép vĩnh viễn đã hòa muôn nghị lực!
Mỗi viên đạn bắn tan đầu đế quốc
Là lời ca “Ca ngợi Sta-lin”
Mỗi căn nhà mới dựng, mỗi tiếng máy đào kênh
Là ý chí Sta-lin dẫn dắt
Mặt trời khuất nhưng mặt trời vẫn mọc
Đảng Liên Xô vững chắc vẫn ngời soi
Ơn Sta-lin: nắng ấm mãi loài người.

10-3-1953

XUÂN DIỆU

Nguồn:

Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 82

————————————————-

 

XEM PHIM A-DÉC-BAI-DĂNG, NHỚ ĐỒNG CHÍ STA-LIN

 
Xem phim A-déc-bai-dăng
Quê hương phồn thịnh muôn vàn tốt tươi
Dầu phụn tự đáy biển khơi
Lúa bông đến tận chân trời bao la
Mặt con người thắm như hoa
Quê hương xã hội đây là thần tiên
Sta-lin! Đồng chí Sta-lin!
Tên Người đồng vọng khắp miền Ba-cu
Tên Người hoa nở bốn mùa
Tên Người ríu rít giọng đùa trẻ con
Tên Người khắp nước khắp non
Sta-lin bất diệt, Người còn sống đây
Sống cùng dân, sống hang ngày
Mến yên, làm lụng, đắp xây cuộc đời
Người đi Người dặn đủ lời
Chúng con thề quyết theo Người tiến lên
Mai đây độc lập vững bền
Bước theo anh chị khắp miền Liên Xô
Người người hạnh phúc tự do
Sta-lin đã vạch tiền đồ chúng con.

HUY CẬN

Nguồn:

Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 76

 

Thursday, November 2, 2023

mùa thu nơi đâu


Câu thơ vi vút trong đầu khi bước vào cổng chính vườn Luxembourg. Lãng mạn chút thôi, vì tôi chẳng có người em "tóc vàng sợi nhỏ" nào cả, — như Cung Trầm Tưởng (1932-2022) ngày nào (*1).

Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu...

Vả lại, bây giờ ở đây không còn những ghế đá như xưa.

photo dtk@hdc.com 2018

Hôm nay xem lại tấm hình dưới đây chụp hai hôm trước (31/10/2023), mới để ý góc bên phải có một người đàn bà ngồi một mình trên một banc gỗ, hình như là nhạc sĩ, vì cầm một cây đàn đỏ trên tay. Biết đâu người ấy chẳng đương sáng tác một bản tình ca?

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Mà lạ thật, thơ văn viết về mùa thu xưa nay thường buồn, không hiểu tại sao. Mà thơ buồn về mùa thu, buồn nhất có lẽ là của mấy nhà thơ tiếng Việt. Như mấy câu này của Dương Minh Loan chẳng hạn: 

Và mùa thu lại trở về rồi đó 
Trên núi cao có từng đám sa mù 
Tôi hờ hững tưởng tên mình chưa có 
Cánh hoa nào đang đợi lần mộng du
Xem: Đi vào cõi thơ, Bùi Giáng (1926-1998)

Hồi xưa đọc Le Livre De Mon Ami, nhớ mãi đoạn kể lại kỉ niệm của Anatole France (1844-1924) khi đi ngang khu vườn này, dưới những bức tượng phủ lá vàng.

« X – LES HUMANITÉS

Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. »

Extrait de: Anatole France, « Le Livre de Mon Ami »

Tôi kể bạn nghe, mỗi năm khi trời xao xác vào thu, khi trong nhà bắt đầu phải thắp đèn cho bữa ăn chiều và khi những chiếc lá úa vàng trên cây run rẩy; tôi kể bạn nghe, vào những ngày đầu tháng mười, tôi đi ngang qua vườn Luxembourg, lúc đó mang chút u buồn nhưng đẹp hơn bao giờ hết; vì đó là mùa lá rơi từng chiếc từng chiếc trên vai trắng những bức tượng trong vườn.

Vườn Luxembourg, tôi nghe tên nó từ khi học tiếng Pháp với sách của Gaston Mauger, ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Sài Gòn). Bài học mô tả khu vườn, với mấy đứa trẻ thả thuyền trong hồ nước ở trước dinh Thượng Nghị Viện (Palais du Sénat), làm tôi cứ mơ tưởng được đến đây. Khi sinh được con gái đầu lòng, năm nó lên 2-3 tuổi, vợ chồng tôi liền dẫn nó đến đây, cho nó thả thuyền. Đứa bé không biết cảm nghĩ ra sao, còn cha nó lấy gậy đẩy thuyền, vui sướng như thằng con nít. Đến lượt hai đứa cháu ngoại, chúng tôi cũng dẫn đến đó thả thuyền như mẹ chúng nó ngày xưa.

photo dtk@hdc.com 2023-11-05

Trên boulevard Saint-Michel đi tới khu vườn, tôi thường vào mấy tiệm sách, đặc biệt là những gian bán sách cũ. Cũng như hồi xưa đến Nhà Sách Khai Trí ở Sài Gòn.

Thôi thì đủ cả, sách giáo khoa, văn học, nghệ thuật, khoa học, kinh tế, chính trị, v.v. Hàng ngàn cuốn, nhiều sách in rất đẹp, mà người ta bán lại với giá rẻ mạt không ngờ. Tôi nhớ đã mua ở đây một bản cuốn 
Kim-Vân-Kiêu, traduit du vietnamien par Xuân-Phúc et Xuân-Việt, Connaissance de l'Orient, Gallimard/UNESCO, 1961, Paris, France. Cách đây không lâu, tôi còn mua được một cuốn sách đặc biệt tưởng niệm Jean-François Champollion (1790-1832), người đã phát hiện ra cấu trúc của chữ viết Ai Cập. Trong sách có bản chụp những trang viết tay của Champollion trong suốt bao nhiêu năm trời nghiên cứu. Chỉ lật qua vài trang sách đủ thấy công phu giá trị của nhà in. Tôi ước lượng sách này bây giờ in lại, giá bán cũng cỡ 100 euros là ít. Vậy mà hôm đó tôi trả có 1 euros.

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Hôm nay thơ thẩn vào xem, chợt thấy lọt ra một cuốn sách nhỏ của Lénine (1870-1924). Thấy đề giá tới 10 euros lận. 

Hê hê, bộ muốn giỡn ngươi với tôi sao chớ? Tên chính trị gia "ác ôn" này, bây giờ còn có người đọc nữa sao?

Tố Hữu (1920-2002) viết mấy câu thơ "thổ tả" ca tụng Staline (1878-1953), — bộ hạ của Lénine —, chưa đủ sao, mà mấy anh thợ thơ kia (Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên) cũng bắt chước "bơm" Staline không ngượng mồm (*2). 

Tội nghiệp cho Xuân Diệu, người đã viết một câu thơ rất đẹp về mùa thu:

Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu

Trời mưa lất phất, nhà tôi ghé vào một cửa tiệm bán dù:

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Hướng về phía sông Seine tới trạm métro Saint-Michel Notre-Dame, một câu thơ của Lưu Vũ Tích bay về trong trí nhớ:

Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu
我言秋日勝春朝

Ta bảo rằng ngày thu còn rực rỡ hơn cả buổi sáng mùa xuân



Đặng Thế Kiệt
Paris, 2023/11/02



Chú thích
(*1) MÙA THU PARIS - PHẠM DUY - DUY QUANG
(*2) Lại Nguyên Ân https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10226497557924068&id=1198626660 
Tháng Ba 1953, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên đều có thơ về Stalin





Wednesday, October 25, 2023

em bé và quả bóng đỏ


Hồi nhỏ học trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng ở phố Đa-Kao, thời lớp Nhì hay lớp Nhất, mỗi ngày đi ngang rạp chiếu bóng Asam gì đó, hay vào xem mấy hình rút từ những cuốn phim đang chiếu hay sắp chiếu trong rạp, trưng trên tường, trong cái hành lang nhỏ xíu.

Một hôm thấy một bảng vẽ thật to trên mái cao trước rạp, quảng cáo phim "Em bé và quả bóng đỏ", tự nhiên thích quá.

Bác Lộc gái (chị cả của cha tôi, lấy chồng tên Lộc, ở Thị Nghè) một hôm đến thăm nhà. Không biết tại sao, bà bác hứa sẽ cho tôi, và hình như cả anh tôi nữa, đi xem cuốn phim đó.

Ngày tháng trôi qua, mấy lần gặp bác sau đó, không nghe bác nói gì về lời hứa cũ. 

Từ đó tôi cứ ngẩn ngơ nhớ cuốn phim kia.

Mấy năm sau lên trung học, tôi say mê đọc hết các báo dành cho học sinh thời đó: Tuổi Xanh, Măng Non, Tuổi Hoa, v.v. Tôi thích thú gửi vài bảng chơi ô chữ, tranh vẽ, bài thơ... đăng báo. 

Lần đầu tiên, tôi có bảng ô chữ tự mình làm ra, với tranh nền là một con chó, 10x10 ô đen trắng, in trên báo Măng Non. Tôi đem khoe với một thằng bạn trong xóm. Nó không tin, làm tôi ấm ức cả buổi, nhưng không biết lấy gì làm bằng cớ.  Báo Măng Non có mục tranh vui cười mà tôi rất thích, nhưng không nhớ tên người họa sĩ phụ trách. Mục này có 2 nhân vật chính là Tư Xún và Ba Xạo, 2 cậu bé lên 12-14 tuổi.

Một hôm tôi cũng vẽ gửi một chuyện vui ngắn bằng tranh, gồm mười hình. 

Đó là một mẩu đối thoại, như sau:

Ba Xạo: Nhà tớ có hàng ngàn gia súc.
Tư Xún: Vậy nhà bồ giàu lắm nhỉ?
Ba Xạo: Làm gì mà giàu.
Tư Xún: Vậy lấy gì nuôi?
Ba Xạo: Đâu cần nuôi. Toàn là ruồi với muỗi cả.

Tranh tôi vẽ không được đăng, nhưng lời đối thoại được họa sĩ mục tranh vui cười lấy nguyên văn và vẽ lại hoàn toàn, đề tên tác giả là tôi.

Cha tôi xem báo, có vẻ hãnh diện lắm. Nhưng tôi không biết cha có nhận ra rằng tranh vẽ không phải của tôi.

Năm 14 tuổi, tôi viết một bài gửi đăng báo Măng Non, bây giờ còn nhớ như in:

Buổi chiều đi học về, chợt thấy ở một góc đường, có một ông dựng chiếc xe đạp, với một bình khinh khí kềnh càng, bơm những quả bóng màu rực rỡ, buộc vào guidon, đong đưa trước gió. Tôi moi túi quần được mấy đồng bạc cắc, lại mua một quả. Tôi còn xin thêm một sợi dây để nối cho dài. Tôi bước đi, ngước mắt nhìn quả bóng lơ lửng, lòng tràn ngập niềm vui nghĩ đến món quà cho đứa em nhỏ ở nhà. Tôi chợt hụt chân, vuột mất quả bóng trên tay. Và đứng sững nhìn theo nó, từ từ bay lên cao, vượt quá ngọn cây, rồi nhỏ dần, mất hút vào mây.

Bất ngờ hôm qua, xem trên Facebook một tấm hình có một em bé cầm một quả bóng đỏ chạy trên đường phố Paris.

photo Facebook

Không thể nào lầm lẫn: đây chắc chắn là một tấm hình trong cuốn phim thời nhỏ Đa-Kao.

Lời ghi chú kèm theo bức hình rất rõ: 
Le Ballon Rouge 1956. Paris. Court métrage français réalisé par Albert Lamorisse et tourné à Ménilmontant avec la participation des enfants du quartier. (Quả bóng đỏ 1956. Paris. Phim ngắn do Albert Lamorisse thực hiện và quay tại Ménilmontant với sự tham gia của các trẻ em trong phố.)

Tôi bỗng thấy mình trở lại thời 60 năm về trước, thành một chú bé cầm bóng chạy trên đường phố Paris.

Hôm nay viết mấy dòng này để làm chi không biết?

Nhớ đến nhan đề một cuốn sách của Henry Miller (1891-1980): Remember to remember. Souviens-toi de te souvenir.

Chắc phải dịch sang tiếng Việt theo thể điệu phiêu bồng của Guillaume Apollinaire (1880-1918) như thế này chăng:

Mùa thu mãi mãi
Em nhớ cho
Em nhớ nhé đừng quên



Đặng Thế Kiệt
2023-10-25











Sunday, October 15, 2023

những trái hồng mùa thu

 

photo dtk 2023: vườn hồng

Sáng nay vào thu, khí trời chỉ hơi se lạnh. Cây hồng trồng mới hai năm đã ra khá nhiều trái. Chợt nhớ những kỷ niệm ngày xưa.

Nhà tôi hồi nhỏ, mẹ đi lấy chồng xa, gửi nhà tôi ở trọ dì Năm. Có phận sự chính là giữ em, đưa võng cho tụi nó ngủ, hoặc bồng đi chơi. Ngày Tết, Là bồng đứa em theo đám múa lân từ sáng tới chiều, đói thì đập bể trái dưa hấu cạp ăn. Tới tuổi đi học trường làng, buổi trưa bà ngoại đem gà mên cơm đến trường. Một bữa bà quên, buổi trưa nhờ người quen nhắn với bà nội nhà ở gần trường sai người nhà đem cơm lại. Là mắc cở, không chịu ra nhận gói cơm. Buổi chiều ra về, cùng với một con bạn. Là đói bụng mờ cả mắt, đi trên đường làng mệt lả, cứ đòi nằm trên bờ cỏ ngủ. Con bạn phải dìu đi mấy lần mới về tới nhà. Lục nồi trong bếp được chén cơm nguội, đem chan nước luộc bầu, ăn ngon lành. Có những ngày không có gì ăn, bà ngoại dẫn Là đi hái mấy trái trâm ăn lót dạ.

Sau bà má gởi tiền về cho dì Năm. Cho Là đi học trường bà sơ ở Lái Thiêu, rồi sau gởi đi nội trú ở Sài Gòn. Cuối tuần, không có ai tới rước, ở lại một mình trong phòng nội trú. Chiều chúa nhật, mấy đứa bạn mới lục tục về trường. Có một đứa cùng lớp, mỗi lần về trường đều mang theo quà cáp. Hôm đó, nó cầm trên tay một trái cây rất lạ, màu đỏ cam, giẹt như trái cà chua. Con nhỏ rất đẹp, nhưng bị câm. May có đứa bạn khác nói cho Là biết đó là trái hồng. Hình như lần đó Là chưa được cắn một miếng hồng nào.

Còn tôi, kỷ niệm đầu tiên về trái hồng là trên chuyến tàu di cư từ Hải Phòng, ghé Nha Trang, rồi tới Sài Gòn. 

Tôi còn nhớ rõ, mấy ngày lênh đênh trên biển cả. Lúc đầu, ở dưới hầm tàu. Người ta nôn mửa đầy chung quanh giường sắt hai tầng. Hôi hám muốn nghẹt thở. Cha mẹ tôi xin phép được đưa lên boong tàu. Che bạt nằm, gió biển thổi phần phật. Nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy dễ chịu hơn ở dưới hầm. Bên cạnh chỗ chúng tôi nằm, có ông lính khố xanh khố đỏ, — theo lời cha tôi —, luôn mồm kể chuyện. Tôi nghe ông nói chữ "bánh tây", sau này mới biết đó là "bánh mì". Ông ta còn chia cho chúng tôi miếng bánh biscuit lạt, khổ vuông 10 phân, ăn bùi bùi. Cha tôi bảo đó là trong khẩu phần cho quân đội Pháp.

Mẹ tôi không biết dự bị lúc nào, cho chúng tôi ăn trứng gà luộc, món tráng miệng có sẵn thúng quýt vàng ươm. Lúc ghé cửa biển Nha Trang, có thuyền cập bên hông tàu buôn bán xôn xao. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn củ mã thầy và một thứ quả khô lạ lắm. Đó là những miếng giẹt, hình tròn, trên phủ đầy bột trắng. Mẹ tôi đem ngâm vào nước nóng, bột trôi sạch, hiện ra một thứ trái nâu nhạt, ở giữa nhận ra cuống trái nhiều cánh. Mẹ cắt ra làm nhiều miếng, đưa cho chúng tôi ăn, ngọt ngào, dẻo quẹo.


Đó là lần đầu tiên tôi được thưởng thức trái hồng khô. Hương vị thần tiên.








Tuesday, October 3, 2023

tiễn một người chưa quen trên hè phố đông vui


trên hè phố đông vui, Trương Minh Giảng, Sài Gòn 1973 (lth)


Đọc tin một người nào đó mới qua đời, lòng tôi thường nhói lên một chút.

Hôm qua đọc bản tin, trên FB Gió O Hải Ngoại, được biết Phan Ngọc Hùng (1955-2023), không biết là ai, vừa mới qua đời, lòng tôi cũng nhói một chút. Một chút thôi, — vì tấm hình kèm theo quá rực rỡ.

Rồi đọc và nghe mấy lời hát kèm theo, mà cảm thấy hạnh phúc tràn trề.

We had joy, we had fun
We had seasons in the sun

Đường Trương Minh Giảng? Sài Gòn đó ư? Năm 1973? Như là mới hôm qua. Tôi đã từng lai vãng qua con phố này từ những năm xa lắc. Anh Hùng sao mà cười tươi thế. Hai cô bạn cũng đẹp như hoa. Và nắng Sài Gòn. Chẳng cần áo lụa Hà Đông.

Ba người bạn, tuổi chưa tới hai mươi, trên ngưỡng cửa vào đại học cuộc đời.

Tôi lên youtube kèm theo, nghe đi nghe lại hai ba lần bài hát, mà lòng vẫn vui.

Thời buổi Internet cũng hay. Tôi tò mò tìm trang Facebook của Phan Ngọc Hùng đọc một hai bài cuối anh viết trước đây vài tháng. Thì ra anh cũng dự trước ngày về cõi nghìn thu:

@ FB Phan Ngọc Hùng (1955-2023) Trong những ngày nằm bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, chờ đợi phán quyết chung thẩm của 1 đời người. Sao lòng mình thấy thanh thản và nhẹ nhàng vô cùng. Bởi vì: — Chúa đã dành cho mình quá nhiều yêu thương và ân sủng, — Đức Mẹ đã dạy mình qua 2 tiếng Fiat: "Cám ơn Mẹ, con thực lòng thống hối, Noi gương người, con xin nói "XIN VÂNG" Vẫn vui tươi bước trọn con đường trần, 1 phút, 1 giờ cứ tuân ý Chúa."

Thật cảm động khi đọc bài thơ anh viết cho mẹ:

NGÀY 8 THÁNG 3 CỦA MẸ
8 tháng 3,
Mẹ trốn trong trang sách,
Tìm chuyến tàu,
về thơ ấu xa xưa.
Nhớ tiếng võng,
kẽo kẹt buổi trưa,
Tiếng sáo diều đong đưa trong mây trắng.
Trong vùng ký ức tù mù trống vắng,
Tuổi thơ Mẹ,
bươn chải với nắng mưa,
Ngoại mất sớm,
Mẹ chạy chợ sáng trưa
Để kiếm cái mặc cái ăn từng bữa.
Trong đời Mẹ.
chẳng cần Ngày Phụ Nữ,
Quãng đời Mẹ,
chỉ biết chữ hy sinh.
Mẹ chẳng thiết tha với thói hư vinh,
Chỉ biết chôn mình vào tình mẫu tử. 
Đời của Mẹ,
là 1 trang huyền sử,
Mà câu chữ là những nét gian nan.
Năm lần mái tóc Mẹ vấn khăn tang,
Tiễn chồng, bốn con bước sang cõi chết.   
Tôi nghe da diết những lời:
Người ta,
xuân sắc có thời,
Mẹ tôi,
chinh phụ một đời vọng phu
Đêm đêm nghe tiếng Mẹ ru,
“Cha con chinh chiến tít mù miền xa”
Đó, 
Mẹ tôi là một cành Hoa.
Bước qua giông bão, 
không nhoà toả hương.
Bây giờ Mẹ ở cuối đường,
Dầu con khôn lớn, tình thương vẫn đầy.
Mẹ ngồi đọc sách mê say,
Thả hồn theo chuyến tàu đầy tuổi thơ.
Ừ, 
thôi Mẹ cứ mộng mơ,
Mặc cho tâm thức mù mờ khói sương.
Mẹ ơi,
Đời là cõi vô thường,
Con còn có Mẹ, tình thương muôn đời.

PAUL SARTRE PHAN NGỌC HÙNG (8/3/2023)


Anh Hùng ơi, xin vĩnh biệt một người bạn chưa quen.


Đặng Thế Kiệt
2023-10-03