photo 2023 dtk@hdc.com
lá non thác đổ đâu đây, vẳng nghe nước cũ bóng ngày thoảng qua をちこちに滝の音聞く若葉哉 ochikochi ni taki no oto kiku wakaba kana ~ From far and near, Hearing the sounds of waterfalls, Young leaves (Buson) ~ https://www.takase.com dang.thekiet2022@yahoo.com
Tuesday, December 12, 2023
cánh chim mùa thu
Monday, December 4, 2023
sur les quais du vieux Paris
Juliette Gréco (1927-2020) : " Sur les quais du vieux Paris, le long de la Seine, le bonheur sourit... "
Quand doucement tu te penches
En murmurant c'est dimanche
Si nous allions en banlieue faire un tour
Sous le ciel bleu des beaux jours ?
Mille projets nous attirent
Mais, dans un même sourire
Nous refaisons le trajet simple et doux
De nos premiers rendez-vous
Sur les quais du vieux Paris
Le long de la Seine
Le bonheur sourit
Sur les quais du vieux Paris
L'amour se promène
En cherchant un nid
Vieux bouquinistes
Belles fleuristes
Comme on vous aime
Vivant poèmes
Sur les quais du vieux Paris
De l'amour bohème
C'est le paradis
Tous les vieux ponts nous connaissent
Témoins des folles promesses
Qu'au fil de l'eau leur écho va conter
Aux gais moineaux effrontés
Et, dans tes bras qui m'enchaînent
En écoutant les sirènes
Je laisse battre, éperdu de bonheur
Mon coeur auprès de ton coeur
Sur les quais du vieux Paris
Le long de la Seine
Le bonheur sourit
Sur les quais du vieux Paris
L'amour se promène
En cherchant un nid
Vieux bouquinistes
Belles fleuristes
Comme on vous aime
Vivant poèmes
Sur les quais du vieux Paris
De l'amour bohème
C'est le paradis
thì thầm chủ nhật thưa rằng hôm nay
chúng ta đi một vòng này
dưới trời xanh đẹp vùng ngoài em ơi?
muôn hành trình rất mê tơi
nhưng hai đứa chỉ mỉm cười nhìn nhau
nhớ bờ sông hẹn ban đầu
Paris cổ kính mộng màu xanh tươi
dòng Seine hạnh phúc nụ cười
tình yêu dạo bước đâu nơi ấp tình
này nhà bán sách thùng xanh
những cô nàng đẹp nhánh cành bán hoa
yêu làm sao các bạn ta
những bài thơ mộng chan hòa thành xưa
địa đàng tình ái giang hồ
những cây cầu cổ biết thừa chúng ta
chứng bao lời ước kiêu xa
dòng trôi tiếng dội kể ra lắm điều
chim non dạn dĩ bao nhiêu
trong tay em kéo tôi chiều theo em
ngư nhân tiếng hát êm đềm
hai tim hạnh phúc say mềm bên nhau
bờ sông êm ái nghiêng đầu
Paris cổ kính mộng màu xanh tươi
dòng Seine hạnh phúc nụ cười
tình yêu dạo bước đâu nơi ấp tình
này nhà bán sách thùng xanh
những cô nàng đẹp nhánh cành bán hoa
yêu làm sao các bạn ta
những bài thơ mộng chan hòa thành xưa
địa đàng tình ái giang hồ
là đây hạnh phúc bên bờ đá xanh
(dtk dịch)
Wednesday, November 22, 2023
lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi...
Tản Đà (1889-1939)
-----
Năm học lớp Đệ Nhị, làm luận văn bình giảng bài từ khúc này, được thầy Vũ Hoàng Chương (1915-1976) chấm 12/20 với một cái khuyên [*1] đỏ bên lề.
Hôm nay, anh mayvienphuong@huediepchi.com gửi cho xem bức hình "Hạc trắng", vụt nhớ lại bài từ khúc của Tản Đà.
Một con chim bồ câu chạy đến bên trạm xe buýt, mổ mấy vụn bánh mì rớt trên mặt đất. Nhà tôi bảo kiếp sau làm chim chắc sướng chứ...
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm con chim nhạn tung trời mà bay.
(Tản Đà) [*2]
Nhất là, vừa về tới nhà, lại nhận được một tấm ảnh đẹp của một chị bạn ở xa, chụp chim ăn hồng vườn nhà chị.
(dtk, 2023-11-22)
Ghi chú
cf. http://www.vietnamtudien.org/hanvietv2/
[*1] khuyên 圈
♦(Động) Đánh dấu vòng tròn nhỏ cạnh câu văn, cho biết câu văn hay. ◎Như: khuyên điểm 圈點 đánh dấu khuyên và dấu điểm ghi chỗ văn hay. ◇Hồng Lâu Mộng 紅樓夢: Phàm hồng quyển tuyển đích, ngã tận độc liễu 凡紅圈選的, 我盡讀了 (Đệ tứ thập bát hồi) Những bài (thơ) tuyển có khuyên đỏ, em đọc cả rồi.
Làm đôi chim nhạn giữa trời mà bay.
(Tản Đà)
Saturday, November 18, 2023
Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên... và Staline
https://vanviet.info/tu-lieu/thng-ba-1953-to-huu-xun-dieu-huy-can-che-lan-vin-deu-c-tho-ve-stalin/
Đầu tháng Ba 1953, tại Việt Bắc, được tin lãnh đạo Liên Xô J. Stalin qua đời, tạp chí VĂN NGHỆ của Hội Văn nghệ Việt Nam đã ra số đặc biệt (s. 40, tháng Ba 1953) về J. Stalin, trong đó có bài của Hồ Chí Minh, thơ của Chế Lan Viên, Huy Cận, Tố Hữu, Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Xuân Diệu, Lê Thái, văn của Nguyên Hồng, Phan Khôi, Lê Đạt, Hoàng Trung Thông, Minh Tranh.
Để dư luận khỏi nhận định rằng, dường như DỊP ẤY chỉ có bài thơ "Đời đời nhớ Ông" của Tố Hữu, dưới đây tôi đưa lại các bài thơ của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, cũng đăng trong Văn nghệ số 40 (tháng 3/1953) ấy. — LẠI NGUYÊN ÂN
——————————-
STALIN KHÔNG CHẾT
Stalin mất rồi!
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài!
Tin dữ truyền đi
Nỗi đau xé cắt
Vạt áo nhân dân thấm đầy nước mắt
Dao đâm qua triệu triệu tim người
Nhớ bài thơ Nê-ruy-đa cũ
Ca ngợi đêm khuya phòng điện Krem-lin
Vời vợi bóng đèn sáng tỏ
Có một người đêm khuya không ngủ
Thức canh cho thế giới hòa bình
Đồng chí Sta-lin đó!
Sta-lin nay không còn nữa!
Vắng vẻ dáng hình lãnh tụ
Một vừng ráng đỏ
Vĩnh viễn hòa trong xa xanh.
Đồng chí Sta-lin ơi!
Đồng chí Sta-lin không chết.
Đế quốc rồi tuyệt diệt
Thế giới ta còn nguyên vẹn mặt trời.
Anh đội viên sẽ kể:
Máu của tôi ra nhiều
Trong đạn lửa tôi bỗng nghe: “Đồng chí!”
Ngửng mặt nhìn lên, thấy hình Thống chế,
Mắt tôi hoa trong trong mắt của mặt trời.
Máu tôi ra nhưng máu lại thêm rồi…
– “Xung phong! Giết, giết!”
Ai tung tôi qua bảy tầng giây thép
Sta-lin là tiếng thét
Sta-lin thành bộc lôi (1)
Sta-lin!
Trăm lưỡi mác sáng ngời
Cháy tan vị trí, (2)
Cờ đỏ mọc lên
Trong cờ đỏ tôi thấy hình Thống chế,
Giai cấp chúng ta quang vinh là thế,
Nhìn chiến công tôi, Thống chế mỉm cười.
Mẹ hiền ta ơi!
Em bé ta ơi!
Đồng chí Sta-lin không bao giờ chết!
Cộng sản là mùa xuân,
Cuộc đời là bất tuyệt,
Đảng chúng ta là núi thép
Mỗi chúng là một giọt máu Người
Chúng ta còn,
Sta-lin còn mãi mãi…
Triệu triệu mẹ già, em dại
Đều là súng Sta-lin để lại
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời.
Tháng 3.1953
CHẾ LAN VIÊN
Nguồn:
Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 74-75
CHÚ THÍCH:
(1) bộc lôi: như “bộc phá”
(2) vị trí: ở đây nghĩa là đồn địch.
————————————————-
THƯƠNG TIẾC ĐẠI NGUYÊN SOÁI STA-LIN
Đại Nguyên soái Sta-lin đã mất
Tin rụng rời đến với chúng tôi
Cả thế gian như bỗng mất mặt trời
Ba trăm người chúng tôi trào nước mắt
Đứng lên, ngực nghẹn ngào tiếng nấc
Sta-lin, cha vĩ đại của loài người!
Liên Xô giờ đau đớn biết bao nguôi
Và Trung Quốc, Việt Nam và trên khắp cả cõi đời
Từ Nam Mỹ cho đến ngoài Bắc Cực
Những người mến nhân dân và Tổ quốc
Những người mong làm lụng giữa hòa bình
Nghìn triệu người thương khóc Sta-lin
Người xa cách chúng con ngàn vạn dặm
Lời chỉ nghe trên sách báo mà thôi
Mặt chỉ trông trên bức ảnh mỉm cười
Nhưng mà thật thấm nhuần bao trìu mến
Nghe tin mất, mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm, miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh,
Việt Nam mang công đức của Người s
Vẫn mong Người hơn trăm tuổi dài lâu
Bền như núi, lãnh đạo toàn thế giới
Đời đời sống Sta-lin mãi mãi
Lời khóc Cha như lời chúc thọ Cha
Sta-lin, gương vĩnh viễn không già
Thép vĩnh viễn đã hòa muôn nghị lực!
Mỗi viên đạn bắn tan đầu đế quốc
Là lời ca “Ca ngợi Sta-lin”
Mỗi căn nhà mới dựng, mỗi tiếng máy đào kênh
Là ý chí Sta-lin dẫn dắt
Mặt trời khuất nhưng mặt trời vẫn mọc
Đảng Liên Xô vững chắc vẫn ngời soi
Ơn Sta-lin: nắng ấm mãi loài người.
10-3-1953
XUÂN DIỆU
Nguồn:
Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 82
————————————————-
XEM PHIM A-DÉC-BAI-DĂNG, NHỚ ĐỒNG CHÍ STA-LIN
Xem phim A-déc-bai-dăng
Quê hương phồn thịnh muôn vàn tốt tươi
Dầu phụn tự đáy biển khơi
Lúa bông đến tận chân trời bao la
Mặt con người thắm như hoa
Quê hương xã hội đây là thần tiên
Sta-lin! Đồng chí Sta-lin!
Tên Người đồng vọng khắp miền Ba-cu
Tên Người hoa nở bốn mùa
Tên Người ríu rít giọng đùa trẻ con
Tên Người khắp nước khắp non
Sta-lin bất diệt, Người còn sống đây
Sống cùng dân, sống hang ngày
Mến yên, làm lụng, đắp xây cuộc đời
Người đi Người dặn đủ lời
Chúng con thề quyết theo Người tiến lên
Mai đây độc lập vững bền
Bước theo anh chị khắp miền Liên Xô
Người người hạnh phúc tự do
Sta-lin đã vạch tiền đồ chúng con.
HUY CẬN
Nguồn:
Văn nghệ, [Việt Bắc], Hội Văn nghệ Việt Nam, s. 40 (tháng Ba 1953)
Rút từ: Sưu tập VĂN NGHỆ 1948-1954, Hữu Nhuận sưu tầm, Lại Nguyên Ân biên soạn,
Tập 6: 1953, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005, tr. 76
Thursday, November 2, 2023
mùa thu nơi đâu
Hồi xưa đọc Le Livre De Mon Ami, nhớ mãi đoạn kể lại kỉ niệm của Anatole France (1844-1924) khi đi ngang khu vườn này, dưới những bức tượng phủ lá vàng.
« X – LES HUMANITÉS
Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. »
Extrait de: Anatole France, « Le Livre de Mon Ami »
Tôi kể bạn nghe, mỗi năm khi trời xao xác vào thu, khi trong nhà bắt đầu phải thắp đèn cho bữa ăn chiều và khi những chiếc lá úa vàng trên cây run rẩy; tôi kể bạn nghe, vào những ngày đầu tháng mười, tôi đi ngang qua vườn Luxembourg, lúc đó mang chút u buồn nhưng đẹp hơn bao giờ hết; vì đó là mùa lá rơi từng chiếc từng chiếc trên vai trắng những bức tượng trong vườn.
Vườn Luxembourg, tôi nghe tên nó từ khi học tiếng Pháp với sách của Gaston Mauger, ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Sài Gòn). Bài học mô tả khu vườn, với mấy đứa trẻ thả thuyền trong hồ nước ở trước dinh Thượng Nghị Viện (Palais du Sénat), làm tôi cứ mơ tưởng được đến đây. Khi sinh được con gái đầu lòng, năm nó lên 2-3 tuổi, vợ chồng tôi liền dẫn nó đến đây, cho nó thả thuyền. Đứa bé không biết cảm nghĩ ra sao, còn cha nó lấy gậy đẩy thuyền, vui sướng như thằng con nít. Đến lượt hai đứa cháu ngoại, chúng tôi cũng dẫn đến đó thả thuyền như mẹ chúng nó ngày xưa.
Trên boulevard Saint-Michel đi tới khu vườn, tôi thường vào mấy tiệm sách, đặc biệt là những gian bán sách cũ. Cũng như hồi xưa đến Nhà Sách Khai Trí ở Sài Gòn.
Kim-Vân-Kiêu, traduit du vietnamien par Xuân-Phúc et Xuân-Việt, Connaissance de l'Orient, Gallimard/UNESCO, 1961, Paris, France. Cách đây không lâu, tôi còn mua được một cuốn sách đặc biệt tưởng niệm Jean-François Champollion (1790-1832), người đã phát hiện ra cấu trúc của chữ viết Ai Cập. Trong sách có bản chụp những trang viết tay của Champollion trong suốt bao nhiêu năm trời nghiên cứu. Chỉ lật qua vài trang sách đủ thấy công phu giá trị của nhà in. Tôi ước lượng sách này bây giờ in lại, giá bán cũng cỡ 100 euros là ít. Vậy mà hôm đó tôi trả có 1 euros.
Hướng về phía sông Seine tới trạm métro Saint-Michel Notre-Dame, một câu thơ của Lưu Vũ Tích bay về trong trí nhớ:
我言秋日勝春朝
Ta bảo rằng ngày thu còn rực rỡ hơn cả buổi sáng mùa xuân
Wednesday, October 25, 2023
em bé và quả bóng đỏ
Hồi nhỏ học trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng ở phố Đa-Kao, thời lớp Nhì hay lớp Nhất, mỗi ngày đi ngang rạp chiếu bóng Asam gì đó, hay vào xem mấy hình rút từ những cuốn phim đang chiếu hay sắp chiếu trong rạp, trưng trên tường, trong cái hành lang nhỏ xíu.
Một hôm thấy một bảng vẽ thật to trên mái cao trước rạp, quảng cáo phim "Em bé và quả bóng đỏ", tự nhiên thích quá.
Bác Lộc gái (chị cả của cha tôi, lấy chồng tên Lộc, ở Thị Nghè) một hôm đến thăm nhà. Không biết tại sao, bà bác hứa sẽ cho tôi, và hình như cả anh tôi nữa, đi xem cuốn phim đó.
Ngày tháng trôi qua, mấy lần gặp bác sau đó, không nghe bác nói gì về lời hứa cũ.
Từ đó tôi cứ ngẩn ngơ nhớ cuốn phim kia.
Mấy năm sau lên trung học, tôi say mê đọc hết các báo dành cho học sinh thời đó: Tuổi Xanh, Măng Non, Tuổi Hoa, v.v. Tôi thích thú gửi vài bảng chơi ô chữ, tranh vẽ, bài thơ... đăng báo.
Lần đầu tiên, tôi có bảng ô chữ tự mình làm ra, với tranh nền là một con chó, 10x10 ô đen trắng, in trên báo Măng Non. Tôi đem khoe với một thằng bạn trong xóm. Nó không tin, làm tôi ấm ức cả buổi, nhưng không biết lấy gì làm bằng cớ. Báo Măng Non có mục tranh vui cười mà tôi rất thích, nhưng không nhớ tên người họa sĩ phụ trách. Mục này có 2 nhân vật chính là Tư Xún và Ba Xạo, 2 cậu bé lên 12-14 tuổi.
Một hôm tôi cũng vẽ gửi một chuyện vui ngắn bằng tranh, gồm mười hình.
Đó là một mẩu đối thoại, như sau:
Tư Xún: Vậy nhà bồ giàu lắm nhỉ?
Sunday, October 15, 2023
những trái hồng mùa thu
Tuesday, October 3, 2023
tiễn một người chưa quen trên hè phố đông vui
trên hè phố đông vui, Trương Minh Giảng, Sài Gòn 1973 (lth)
Saturday, September 9, 2023
Paris les bouquinistes
Không ngờ mấy năm sau (tháng 12 năm 1968) được đến Paris.
Chân ướt chân ráo, mới hôm thứ hai ở khách sạn Lutèce Paris 5, tôi rủ ngay một anh bạn đi khám phá thành phố. Tôi có 2 chỗ muốn coi trước nhất: tháp Eiffel và mấy hàng sách bouquinistes này đây.
Tôi còn nhớ rõ chữ "bouquiniste" cùng họ với chữ "bouquin", nghĩa là "cuốn sách". Hôm đó chúng tôi từ đường Berthollet đi về phía đường Saint-Jacques, thuộc quartier Latin (*2), ngóng theo ngọn tháp mà đi, khi thấy khi không, quanh co bao nhiêu đường ngang lối dọc. Buổi sáng hôm đó, mỏi nhừ hai cẳng, mà không đến chân tháp Eiffel. Về phòng, mấy anh sinh viên kỳ cựu ở Paris cười bảo tháp Eiffel cách xa khách sạn hàng mấy cây số.
Bây giờ không nhớ tôi đến bờ sông Seine có bouquinistes lúc nào nữa. Nhưng cảm giác bồi hồi, — lần đầu tiên nhìn tận mắt những cái thùng gỗ màu xanh lá cây, bày dọc theo những bức tường đá thấp bên bờ sông —, tôi không bao giờ quên được.
Sống và làm việc ở Paris gần nửa đời người, càng ngày càng gắn bó với chỗ này. Không biết tôi đã đi bao nhiêu lần rồi, theo dòng sông Seine từ Musée d'Orsay, qua trước mặt Musée du Louvre, ngang Pont Neuf rồi Pont des Arts đến Notre-Dame, lòng thênh thang nhìn nước và mây. Thỉnh thoảng ghé một gian hàng bouquiniste, lật bâng quơ vài trang sách vàng úa, xem một bức tranh cũ của Monet hay một họa sĩ cổ điển nào đó. Hôm nay, bỗng ngạc nhiên vì mình chưa hề mua một cuốn sách nào ở đây cả.
Blaise Cendrars: "Paris là thành phố duy nhất trên thế giới có một dòng sông trôi giữa hai rặng sách (Paris, la seule ville au monde où coule un fleuve encadré par deux rangées de livres.)" (*3)
Tôi bỗng nhớ ra, mỗi lần dẫn bạn bè người quen đến thăm Paris, tôi đều đưa qua chỗ này.
chú thích
(*1) G. Mauger: "cours de Langue et de Civilisation Françaises, tome III"
(*3) Blaise Cendrars (1887-1961): nhà văn nhà thơ gốc Thụy Sĩ, tác giả bài thơ "Les Pâques à New York", sáng tác trước và được coi là có ảnh hưởng lớn trên bài Zone của Apollinaire (1880-1918) trong tập Alcools. cf. https://fr.wikipedia.org/wiki/Zone_(poème)
Là-bas sous le ciel clair
Il existe une cité
Au séjour enchanté
Et sous les grands arbres noirs
Chaque soir
Vers elle s'en va tout mon espoir
Mon pays et Paris
Par eux toujours
Mon coeur est ravi
Ma savane est belle
Mais à quoi bon le nier
Ce qui m'ensorcelle
C'est Paris, Paris tout entier
Le voir un jour
C'est mon rêve joli
J'ai deux amours
Mon pays et Paris
Au lointain j'aperçois
Un paquebot qui s'en va
Vers lui je tends les bras
Et le coeur battant d'émoi
À mi-voix
Doucement je dis "emporte-moi!"
Ton pays et Paris
Par eux toujours
Ton coeur est ravi
Ta savane est belle
Mais à quoi bon le nier
Ce qui m'ensorcelle
C'est Paris, Paris tout entier
Le voir un jour
C'est mon rêve joli
J'ai deux amours
Mon pays et Paris
Monday, September 4, 2023
lời cảm tạ
Thứ bảy, cô bạn Tuyến (từ Le Havre) hẹn với vợ chồng chúng tôi gặp nhau ở quán Foyer Mon Vietnam, 24 rue de la Montagne Sainte-Geneviève, Paris 5, để nghe Hòa thượng Huyền Diệu (*1) giảng pháp về Maha Mangala Sutta. Tối hôm trước, Tuyến viết cho tôi qua Messenger có ý muốn tặng tôi một cuốn sách gì tôi thích. Đúng lúc mấy hôm trước, "tình cờ" đọc được trên mạng Internet một truyện ngắn của Tiểu Tử "Thằng đi mất biệt" — làm tôi muốn đứt ruột. Tôi viết hỏi Tuyến có truyện này không. Thế là trưa thứ bảy, Tuyến đem tặng cho tôi tập "Chị Tư Ù". Lật xem mấy trang đầu, hóa ra cuốn này chính là cuốn của tác giả Tiểu Tử ký tặng cho chị từ 10 năm về trước (2013). Buổi tối về nhà, tôi đọc thêm hai ba truyện nữa. Quả thực tôi biết đến nhà văn Tiểu Tử hơi muộn. Tất cả những nỗi đau thương về một quê hương đày đọa, — từ gần nửa thế kỉ nay, dưới tay một bọn người "quỷ quái tinh ma", — đều được giãi bày ra đó. Tôi trằn trọc cả đêm. Sáng sớm nhổm dậy lên gác mở máy ra đọc viết lăng quăng. Mấy tuần lễ vừa qua, tôi đang xếp đặt lại cả trăm hồ sơ tài liệu trong các máy tính. Gặp lại một bài thơ cũ (*2), đã đăng trên báo Quê Mẹ mùa xuân Đinh Mão 1987. Bài thơ nhớ nhà năm ấy mới vụng dại làm sao. Bởi tôi xa nhà nhiều năm trước biến cố 30 tháng Tư 1975, thì khó mà cảm nhận hết những thống khổ của người dân trong nước trong suốt mấy chục năm qua.
Ấy thế mà khi đọc truyện "Thằng đi mất biệt", tôi lại có cảm giác tác giả nói về mình, đi bao năm biền biệt chưa về.
Đọc truyện "Chị Tư Ù" (*3), đến chỗ người đàn bà bán cá nửa đêm thức giấc, bước ra ngoài, trời đầy sao, gió sông nhè nhẹ, đến trước cửa nhà của tên công an trưởng trong làng.
"Anh ta bước ra đảo mắt nhìn quanh, rồi mới mời:
— Vào đi!
Tiếng "đi" vừa dứt là chị Tư đã bổ con dao phay vào ngay giữa đầu, nhanh gọn và chính xác như chị bổ cái đầu cá."
Chị Tư Ù vừa trả thù cho người yêu của mình đã bị tên này hãm hại.
Tôi thiệt tình hả lòng hả dạ.
Phụ lục
(*1) An Việt Nam Phật Quốc Tự
https://anvietnamphatquoctu.com
Shanti Lumbini Boudha Bhrumi Vihara, Sacred Lumbini Garden, Westside Monastery Zone
NEPAL
http://trang-tho-vun.blogspot.com/2023/09/ben-o.html