Monday, May 29, 2023

nỗi niềm Sapa


Mấy bữa nay lục lại mớ ảnh cũ từ gần mười lăm năm về trước. 
Lựa ra được gần 50 tấm coi tạm rõ, — trong lần đi thăm Sapa năm 2010. 

Ban đầu chỉ định đưa lên một youtube, để ôn lại những kỉ niệm xưa.  

Sau thấy hình chạy qua vùn vụt, không nói được bao nhiêu nỗi niềm hoang mang những ngày hôm ấy. 

Bèn thêm vào phía dưới đôi lời cảm khái.

Melissa, Melissa! (*)
 
 
---- 
chú thích

(*) Melissa
Signification du prénom :
Api (grec)
Signification: Mélissa est un prénom qui a deux origines, l'une grecque et l'autre latine. La première signifie « miel » et la seconde « abeille ».
Caractère: La gentillesse est le mot maître de Mélissa. Il est honnête, honnête et protecteur. Mélissa possède cette aura d'amour qui vous enveloppe et vous rassure. Toujours souriante, il faut beaucoup pour lui retirer son bon humeur. Très généreuse envers ses proches, Mélissa dépense sans compter et n'hésite pas à donner corps et âme pour que son entourage se sente enrichi.
Histoire: Prénom de l'Antiquité grecque, Mélissa (anciennement Mélitta) connaît depuis quelque temps une résurgence de faveur. La chanson de Julien Clerc y aurait-elle quelque chose à faire ?

nguồn: https://www.laboiterose.fr/fr/prenoms/melissa

Hoài Cảm, nhạc sĩ Cung Tiến, giọng ca Lệ Thu
photos dtk@huediepchi.com 2010

# 1. bắp chuối



























# 2. hoa lan vàng: trước hết, cảm ơn bạn Tiểu Bình (CVA 1961-1968), — từ ngày đầu mới đăng, đã chiếu cố tới trang blog này, với những lời thân ái: "Cảm ơn bồ Kiệt có nhã ý chia sẻ cùng bạn ký sự không dễ quên từ thôn ổ dân Dao Đỏ vùng cao. Kiệt ơi, thơ mộng từ cổ thi qua vế đối nắn nót nào ngờ cũng thấu sơn xuyên viễn xứ!" (cf. # 21) Hôm nay 04/06/2023, tức là 5 ngày sau, về tấm ảnh số # 2 này, bạn lại viết thêm: "Lại ngỡ bông bầu bí trên giàn chờ hái làm món ăn quấn vớt thịt thà mà rán." Xem lại một hình bông bí tìm thấy trên internet, cánh hoa hơi nhám chứ không trơn:











Nhà tôi bảo hình dưới đây là hoa datura, hoa đẹp, nhưng rất độc:



























# 3. vách nhà thờ hoang phế























# 4. ruộng thang






















# 5. nụ cười Yao (1): vừa bước xuống xe đậu ở cổng làng, mấy chục cô gái người Yao đã bao vây các du khách. Bốn năm cô đeo gùi đội mũ đỏ quấn chặt lấy nhà tôi, ríu rít muốn bán túi thêu, khăn choàng... Nhà tôi cười cười nói thủng thẳng đã. Các cô ấy nói không sao, chúng em theo chân cô vô thăm làng, xong rồi cô mua hàng cho chúng em nhé. Các cô ấy mở máy điện thoại cầm tay (năm đó 2010, coi là rất mới) nói chuyện huyên thiên. Và trên môi lúc nào cũng nở những nụ cười tươi như nắng.























# 7. gùi Yao

































# 8. chăn trâu (1)






















# 9. chăn trâu (2)
(...) "Ai bảo chăn trâu là khổ Chăn trâu sướng lắm chứ Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau Và miệng hát nghêu ngao Vui thú không quên học đâu Nằm đồi non gió mát Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo Em đánh vần thật mau Sức mai sau xây đắp quê hương Cho nước giàu mạnh hơn Sức mai sau xây đắp quê hươn Cho nước giàu mạnh hơn..."
(nguồn Internet)



# 10. chăn trâu (3)























# 11. xin kẹo























# 12. mẹ Yao khâu vá























# 13. cửa hàng






















# 4. núi đồng Sapa























# 15. hai bé con trước sân nhà (1)























# 16. hai bé con trước sân nhà (2)























# 17. xếp củi (1)























# 18. xếp củi (2)























# 19. phơi quần áo























# 20. vườn sau























# 21. câu đối
căn phòng tối om om; hôm nay lò mò đọc lại mấy câu đối chữ Hán trên vách từ trái qua phải, cột 3: "vân thâm tú các xâm hương mộng nguyệt hạ thanh quang cận quảng hàn"























# 22. em bé củi than (1)
mấy khúc củi tắt ngúm, một cái cùi bắp đã gặm sạch trên nền đất, em bé có hai con mắt sáng như hai hòn bi, mặc chiếc t-shirt JoJo dài quá khổ.























# 23. em bé củi than (2)
hôm nay nhìn lại, thấy mỗi con mắt còn ngấn một giọt lệ long lanh. Có lẽ em bé bị bố mẹ Yao bỏ ở nhà một mình.

Jojo hình như là tên nhân vật chính một bộ truyện bằng tranh manga Nhật Bổn nổi tiếng thế giới những năm 2000























# 24. nồi niêu























# 25. chai lọ rau trái























# 26. gà tây























# 27. xe ô-tô vào làng
























# 28. hoa lan tím: cành lan này không nhớ chụp chỗ nào; bạn Tiểu Bình (trung học Chu Văn An 1961-1968) bảo "giò phong lan dại còn lộng lẫy thanh lịch hơn mớ hoa rừng cấy ghép con buôn làm giá tại phố thị nhiều lắm". Để tạ lòng, xin mượn mấy câu thơ cũ đề tặng bức ảnh
"sedirea japonica" (2016 VP@huediepchi.com) của anh Mây Viễn Phương, cũng là một nhà sưu tầm cả ngàn hoa lan ở California:

Sáng sớm vô rừng hái giỏ lan Ai đem hoa núi tặng giai nhân Mùi hương táo nhẹ vương vai áo Trở bước về thôn lộng gió ngàn
(Saturday, April 30, 2016)

























# 29. honda ruộng























# 30. những con vịt ở Sapa: mắt mấy con vịt này, sao chúng nó buồn thế; còn nhớ cách đây 13 năm, chụp xong tấm ảnh này, ra về, cõi lòng áo não.

# 31. "xóa đói giảm nghèo"

































# 32. "chương trình 2003": ảnh chụp năm 2010, năm nay 2023 -- thắng lợi tới đâu rồi?


































# 33. vải chàm






















# 34. người Yao tươi cười























# 35. tạp hóa























# 36. xin tiền du khách























# 37. chợ (1)























# 38. chợ (2)























# 39. dưa xoài























# 40. đào mận


































# 41. chị em xe đạp























# 42. honda phố chợ























# 43. cô hàng rau






















# 44. quả sấu: mới đầu tôi nghĩ là quả sung, nhưng còn ngờ; nhà tôi bảo là trái táo Tàu; một bạn học chung trường cũ Chu Văn An Sài Gòn nói là quả sấu. Tôi nhớ tới món canh chua sấu mẹ nấu ngày xưa.























 # 45. trái cóc: mới đầu ghi là trái cà na; nhà tôi bảo là trái cóc; bạn tôi nói là quả muỗm.























# 46. xe đạp
























# 47. xe đạp và xe ô-tô
người đàn bà đội nón lá đẩy chiếc xe đạp cũ kĩ, có vẻ như đi bán giấy báo cũ một chiếc ô-tô bóng nhoáng đậu bên lề, không biết của đại gia nào






















# 48. mẹ và con trên đường phố



























 
Đặng Thế Kiệt
2010-2023




Thursday, May 18, 2023

nhìn những mùa thu đi


Nhớ những năm 1966-1968 còn ở Sài Gòn. Mỗi ngày nghe ra rả những bài hát của Trịnh Công Sơn: Gia tài của mẹ, Người con gái Việt Nam da vàng..., — nẫu cả ruột gan. Rồi cứ nghe đi nghe lại bài Diễm Xưa. Chiến tranh đến hồi khốc liệt. Cuối năm 1968, được học bổng sang Pháp. Hình như năm đầu, rất nhớ nhà, viết thư xin mẹ gửi cho đĩa hát mới Nhìn những mùa thu đi. Nghe bài hát như dân ghiền ma túy. Sau cho ai mượn, trong số các bạn đồng hương nơi tôi ở trọ, cái đĩa hát mất tích luôn.

Vào khoảng 1969-1971, mấy người, hình như thuộc Hội Người Việt Nam Tại Pháp, rủ tôi và một bạn khác, đi trại Hè ở Côte d'Azur, bên bờ Địa Trung Hải. Họ có xe nhà cho quá giang, đi trại hè miễn phí. Đến nơi, tôi hiểu ngay tổ chức loại này, là để tuyên truyền, lôi kéo người Việt, sinh viên Miền Nam... theo họ chống chiến tranh, ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam. Nhớ có gặp mặt người vợ của Nguyễn Ngọc Giao, giáo sư toán đại học Paris, có tên trong ban biên tập báo Đoàn Kết. Báo này phổ biến rất rộng trong giới kiều bào thời đó. Nguyễn Ngọc Giao còn giữ phận sự làm thông dịch viên gì đó trong các cuộc hội đàm Paris năm 1972.

Một hôm trên xe car du ngoạn quanh vùng gần trại hè, chợt nghe mấy lời một bài hát:

Huế Sài Gòn Hà Nội quê hương ơi sao vẫn còn xa
Huế Sài Gòn Hà Nội bao nhiêu năm sao vẫn thờ ơ
Việt Nam ơi còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau
Triệu chân em triệu chân anh
Hỡi ba miền vùng lên cách mạng...

Tôi hiểu ngay Trịnh Công Sơn làm nhạc tuyên truyền cho cộng sản Hà Nội. Thời kỳ đó, gần như 100% các bạn bè tôi đều ngất ngư nghe nhạc Trịnh Công Sơn.

Thế rồi, biến cố Tháng Tư 1975. Ngoại trừ một số người Việt hoảng sợ vì cả nước Việt Nam rơi vào tay cộng sản, 80 % các bạn bè tôi đều chạy theo phong trào mới. Họ kéo nhau đi hội họp, hăng hái tham gia chương trình "Chân trời 80", treo hình Hồ Chí Minh trong phòng khách, chuyền nhau đọc "Đại Thắng Mùa Xuân", lấy bút hiệu Nguyễn Kiến Quốc, Trần Nhân Quốc... Có người còn đem báo sinh viên phát hành từ Paris cho đọc, trong đó Trần Bạch Đằng viết lời kêu gọi: Hãy tin chúng tôi...

Năm 1996, lần đầu tiên về nước sau 1975, ra các tiệm sách lớn ở Sài Gòn, chỉ thấy rặt những tập nhạc của Trịnh Công Sơn, sách của chục người có công với chế độ mới. Về nhà, nghe mẹ nói: Mỗi ngày xin chọn một niềm vui.

Từ đó đến nay, ảnh hưởng nhạc Trịnh Công Sơn vẫn lan tràn mạnh. Người ta tôn vinh Trịnh Công Sơn là phù thủy ca từ. Trịnh Công Sơn chường mặt đầy trên Facebook, Youtube... Phòng ca nhạc Trịnh mọc lên như nấm ở Việt Nam.

Tôi ấm ức mãi. Trịnh Công Sơn có thực làm tay sai cho cộng sản hay chỉ là một trí thức ngây thơ để cho cộng sản lợi dụng?

Tôi thích vài bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận... Hôm nọ đọc một bài trên Facebook của Lại Nguyên Ân về mấy bài thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên theo đuôi Tố Hữu cúng Stalin — vừa chết năm 1953 —, còn hơn ông cố nội.

Hôm qua đọc bài Lê Thị Huệ phỏng vấn nhà văn Hoàng Hải Thủy (năm 2011), tới đoạn hỏi về Trịnh Công Sơn, trích lại dưới đây:

LTH:  Nói về Trịnh Công Sơn, một đỉnh điểm điển hình cho một công dân sáng tác đóng góp vào việc làm mất Miền Nam vào tay Miền Bắc. Tôi nghe một cuộc phỏng vấn trên một đài truyền hình trên net, bà Đặng Tuyết Mai vợ phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ kể lại bà cho mời ông Trịnh Công Sơn vào  hát nhạc tình ca và bắt tay với nhau khen nhau này nọ trong dinh thự ông Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Rồi chính ông Trịnh Công Sơn ra ngoài làm nhạc Phản Chiến nhiều hơn ai hết. Thời ấy mấy ai dám làm nhạc Phản Chiến đĩnh đạc và được sống sót như ông Trịnh Cộng Sơn. Phản Chiến là phong trào Quốc Tế. Tôi nghe nói có lúc chính quyền Miền Nam đòi bắt ông Trịnh Công Sơn, nhưng Người Mỹ không cho. Rồi tôi lại nghe ông Trịnh Công Sơn theo VC với những người thân và bạn thân của Nhóm Huế của ổng theo phò VC  tối đa, đến độ VC về Sài Gòn năm 1975 là Trịnh Công Sơn nhào ra hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn. Tôi cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, mê chết đi được. Nhưng thú thật, ở một cương vị cá nhân bị mất mát quá nhiều vì chiến tranh, tôi cũng phải nhìn lại cuộc chiến với suy tư để tự đi tìm cho mình một lời giải thích.  Tôi muốn hỏi ông một câu ông nghĩ sao về trường hợp của Trịnh Công Sơn?

HHT: Tôi khinh anh ta.

Câu trả lời 4 chữ của Hoàng Hải Thủy làm tôi khoái trá, vỗ đùi cái phạch.

Xin cài vào đây một youtube bài nhạc "Nhìn những mùa thu đi" để nghe và nhớ:

(...)
Rồi mùa thu bay đi
Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ
Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn
Chuyện chúng mình ngày xưa
Anh ghi bằng nhiều thu vắng
Đến thu này thì mộng nhạt phai


Và nghe thêm bài này:
Hát Trên Những Xác Người - Tác giả: Trịnh Công Sơn



"Gần một nửa thế kỷ trôi qua, vết thương vẫn chưa lành. Và chắc sẽ không bao giờ lành đối với hàng triệu gia đình, trong khi có những người khác, đứng đầu là nhà nước, có cơ hội "hát trên những xác người" để ăn mừng chiến thắng. Có cơ hội để khoe khoang, đánh bóng quá khứ, để dân quên thực tại đất nước không có gì đáng kiêu hãnh.
(...) Albert Camus nói cuộc đời là những cuộc tranh đấu, nếu không tranh đấu cho lẽ phải, không nổi giận trước những bất công, cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nhưng Camus nói thêm: nổi loạn, hay  phẫn nộ phải có đối tượng, không bao giờ mù quáng, vô vạ, miễn phí (la révolte est ciblée, jamais aveugle ni gratuite).
Chống Cộng, nửa thế kỷ sau, không phải vì oán thù, không phải vì bị cướp nhà cướp đất, nhưng bởi vì nghĩ rằng, biết rằng chế độ Cộng Sản đưa tới bế tắc cho dân tộc. Bế tắc và diệt vong.(Từ Thức: 48 năm và những câu hỏi nhức nhốituthuc-paris-blog.com)


tham khảo

Lê Thị Huệ phỏng vấn Hoàng Hải Thủy
http://www.gio-o.com/HoLieu/Tet2011HoangHaiThuy.htm








Monday, April 24, 2023

Vĩnh biệt Lê Văn Hảo


Tác giả: Thi Vũ (1935-2023)

Lời dẫn của bloggerDưới đây xin đăng lại nguyên văn bài viết nhan đề như trên, với phụ đề "tài liệu lịch sử lần đầu tiên được công bố" trên website gio-o.com vào cuối tháng Hai năm 2023: 
http://www.gio-o.com/ThiVu/ThiVuVinhBietLeVanHao.pdf
Hoàn toàn đồng ý với 4 chữ "tài liệu lịch sử". Vì riêng cái tên Lê Văn Hảo (của người chính được nói đến trong bài) tự nó đã đi vào lịch sử, đặc biệt là trong vụ Thảm sát Mậu Thân (1968) ở Huế. Thi Vũ Võ Văn Ái, khi kể lại kỷ niệm của mình với Lê Văn Hảo — từ những năm mài đũng quần dưới mái nhà trường đến thời kỳ họ gặp lại nhau tại Pháp, có lúc cùng nhau hoạt động —, đã nhắc đến vài nhân vật có liên quan với lịch sử Việt Nam hôm nay, nhất là về biến cố 30 tháng Tư 1975, thời điểm mà cả miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã bị sáp nhập với miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) dưới chế độ độc tài Cộng Sản. Đó là: Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khắc Viện và Võ Thanh Minh.

www.gio-o.com

Trích dẫn một bài Thi Vũ gửi riêng cho Đặng Thế Kiệt (thư đề ngày 18 juin 2018). Thi Vũ thảo bài này nhân đọc một trang blog của tôi viết về Lê Văn Hảo. Sau đây tôi cắt phần đầu không trực tiếp liên quan với đề tài. Xin gửi đến cô Lê Thị Huệ Gió-O, tùy nghi sử dụng, trong bối cảnh Thi Vũ Võ Văn Ái vừa mất (26/01/2023).

(…)
Bài Đặng Thế Kiệt viết ngày 5 tháng 8 năm 2017 về Lê Văn Hảo trên Trang nhà Bóng Ngày Qua của Kiệt dưới đề mục “Mất Quê hương” như sau :
« Hôm đó, vợ chồng tôi đang ngồi trong quán ăn Au Vieux Saigon, avenue d'Ivry quận 13 Paris. Chợt có một cặp già nhỏ nhắn lại ngay bàn bên cạnh. Nhà tôi bỗng nhìn đăm đăm người đàn bà lớn tuổi, rồi ngập ngừng nói:
— « Dạ, có phải là chị Thu Tâm không ạ?
« Người đàn bà khựng lại nhìn nhà tôi, và rồi tỏ vẻ nhận ra nhau.
« Từ nhiều năm qua, nhà tôi hay nhắc đến những kỉ niệm thời học trò ở Saigon. Vào những năm cuối trung học đệ nhất cấp ở trường Regina Pacis, ở trọ nhà cô bạn con gái nhạc sĩ Bửu Lộc, nổi tiếng trên Đài Phát Thanh Saigon. Và nhờ đó quen biết ca sĩ Thu Tâm. Chị Thu Tâm thỉnh thoảng làm ca sĩ trong những buổi tối ca nhạc tổ chức tại nhà riêng của nhà đàn tranh Bửu Lộc, trong một ngõ hẻm trên đường Phan Thanh Giản. Khách tham dự thường là mấy tướng tá người Huế.
« Người đi kèm chị Thu Tâm trong tiệm ăn hôm đó lại chính là Lê Văn Hảo.
« Mấy hôm sau, cặp Thu Tâm - Lê Văn Hảo nhận lời đến thăm chúng tôi. Vào nhà tay bắt mặt mừng. Một cách rất tự nhiên, bốn người xếp thành hai cặp nói chuyện với nhau: chị Thu Tâm và nhà tôi tạo thành một cặp, Lê Văn Hảo và tôi thành cặp thứ hai.
« Hai người đàn bà huyên thiên nói gì với nhau, sau lần gặp mặt đó nhà tôi mới kể lại một phần cho tôi biết. Riêng cặp Lê Văn Hảo và tôi, thì Lê Văn Hảo nói nhiều hơn và tôi gần như chỉ lắng nghe.
« Không ai bảo ai, đề tài nói chuyện xoay quanh "trường hợp Lê Văn Hảo" trong vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế. Tôi chỉ đọc lần đầu tiên đến cái tên Lê Văn Hảo, trong cuốn tiểu thuyết hồi kí Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca. Lê Văn Hảo lặp lại nhiều lần: "Họ đã bombardé tôi vào chức đó, chứ nào tôi có muốn làm."
« Cái chức vụ mà Lê Văn Hảo nói đến ở đây, chính là chức "Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế" khi quân cộng sản Bắc Việt tấn công Huế năm Mậu Thân 1968. Lê Văn Hảo trầm giọng kể cho tôi nghe kỉ niệm xưa. Hồi đó, quân đội Pháp cưỡng chiếm nhà cha mẹ ông làm tổng hành dinh.
« Thế mà ông lại say mê cô con gái của viên sĩ quan trưởng đóng tại nhà.
« Rồi một đêm, người mẹ của Lê Văn Hảo nhảy xuống giếng trong vườn. Để lại mấy lời trăn trối: Mẹ đau quá con ơi, đau không chịu nổi... Ông Lê Văn Hảo nói mẹ ông bị bệnh ung thư tử cung. Ông ấy còn nhắc lại lời mẹ bắt ông phải hứa không bao giờ lấy đầm làm vợ. Vừa kể ông ấy vừa rơm rớm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng.
« Thế rồi câu chuyện chuyển sang thời kì Lê Văn Hảo được đưa về Bắc. Cả mười năm trời, không phải làm gì hết, lại được nuôi cho đi thăm viếng khắp các miền non nước.
« Ông ấy đem một tập giấy hơn hai chục trang chụp photocopie từ những bài đăng trên báo Thông Luận ở Paris khoảng năm 2007, cùng với lời viết tay nắn nót trên bìa cứng:


Lê Văn Hảo, Tiến sĩ Dân tộc học, nguyên hội viên Société Asiatique de Paris
MẤY NÉT VIỆT NAM ĐẸP TƯƠI MUÔN THUỞ
Bản riêng tặng cô R. & anh K.
L.V.H. và Thu Tâm
Mùa Xuân tháng 3/2009

« Hôm đó, Lê Văn Hảo nói ước vọng của ông hoàn thành tác phẩm, dày khoảng 800 trang.
« Chỉ cần đọc nhan đề 13 bài viết trên đây là đủ nhớ da diết quê hương nghìn dặm:

Bản đồ Việt Nam
Mũi Cà Mau
Chòm Lũng Cú
Ao Bà Om
Hương Sơn - Chùa Hương
Hòn Non Nước
Nha Trang
Đà Lạt
Vũng Tàu
Yên Tử
Vườn Chim, Sân Chim, Tràm Chim
Lời cảm ơn của tác giả
Cùng một tác giả (danh mục tác phẩm)

« Tôi đã đọc mấy bài này, rất thú vị. Lời văn trong sáng, đượm tình yêu nước non dân tộc.
« Không nhớ trong hoàn cảnh nào, chúng tôi bốn người đứng trong sân siêu thị Thanh Bình Jeunes ở gần Porte de Choisy. Siêu thị này là của một người trong nước làm chủ. Theo một người bạn học cùng trường xưa ở Việt Nam, người chủ này là họ hàng với tiệm Thanh Bình kì cựu ở Place Maubert Paris từ mấy chục năm về trước. Trước 1975, hầu như dân Việt cả nước Pháp và cả Âu châu đều về đây mua thức ăn rau trái Việt Nam. Sau 1975, cửa tiệm này thất thế dần dần vì bị các siêu thị lớn của người Tàu (Tang Frères, Paris Store, ...) đè bẹp. Riêng siêu thị Thanh Bình Jeunes này chuyên bán các thực phẩm đem từ Việt Nam sang (thay vì phần lớn nhập cảng từ Thái Lan như các siêu thị của người Tàu), và đặc biệt còn có mấy ngăn hàng bán sách báo Việt Nam in trong nước.
« Lúc đó, tôi hơi ngạc nhiên thấy Lê Văn Hảo đến trò chuyện với một người Pháp, khoảng 40-50 tuổi, rõ ràng mang dáng dấp của một SDF (sans domicile fixe) như người Pháp nói bây giờ, tức là một loại clochard truyền thống ở Paris ngày xưa: áo quần xốc xếch, hai gò má lộ ra những tia máu đỏ của những người nghiện rượu. Trông thái độ hai người như thầy trò với nhau. Điều tôi lấy làm lạ, người Pháp này nói được tiếng Việt khá sỏi. Anh ta bảo với tôi rằng trong siêu thị đang bày bán mấy tạp chí có bài của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hóa ra, cứ mãi quanh quẩn với mấy nhân vật trí thức ngày xưa: Trịnh Công Sơn, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, v.v.
« Mấy hôm nay, tôi tìm được trên Internet mấy bài phỏng vấn Lê Văn Hảo và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Cả hai chối bai bải không chịu nhận có dây dưa gì trong cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Cả hai nói, khi đó họ đều ở trên núi, không hề tham gia quyết định trong trận chiến. Họ quá lắm chỉ tự coi là bù nhìn.
« Năm 1996, lần đầu tiên về thăm quê hương sau biến cố 1975, tôi ra xem hai tiệm sách lớn ở Saigon đường Nguyễn Huệ và đường Tự Do (cũ), chỉ rặt thấy bán những sách: hồi kí của Trần Văn Khê, nhạc của Trịnh Công Sơn, tiểu thuyết của Sơn Nam, sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngoài ra, còn có một số sách của Nguyễn Hiến Lê. Nói tóm lại, đều là những người được chế độ mới ưu đãi.
« Gần như cả cuộc đời trên mặt đất tôi chỉ là một kẻ mất quê hương.
« Từ mấy chục năm nay, tôi chỉ có một câu hỏi quay quắt trong đầu:
« Một cá nhân Hồ Chí Minh, xảo quyệt dường nào đi nữa, nếu không có những bộ hạ, và nhất là những tay "trí thức" loại "trung lập", "chủ hòa" hoặc "thành phần thứ ba", cộng với sự hỗ trợ đắc lực của hàng triệu những bác sĩ, giáo sư, thi sĩ, kĩ sư, tu sĩ... —những "tên khờ có ích" (idiots utiles) —, thì làm sao có thể đưa đẩy đất nước và dân tộc Việt Nam vào con đường vô vọng ngày nay? ».

(theo sau là phần cuối bài viết của 
Thi Vũ Võ Văn Ái)

Lê Văn Hảo là bạn học thời tôi trẻ ở Huế.

Hồi cư về năm 1947, trường trung học Khải Định ở Huế bị quân đội Pháp chiếm. Chúng tôi phải học tạm trong mấy gian chuồng ngựa tân trang thành lớp học ngoài đồng An Cựu. Thời gian ngắn sau dời qua trường Chaigneau, một trường trung học Pháp, gần Khách sạn Morin và sở bưu điện. Được một thời gian mới về hẳn Trường Đồng Khánh vốn là trường nữ trung học, nay phân nửa cho nữ sinh, phân nửa cho nam giới, do Thầy Nguyễn Hữu Thứ làm Hiệu trưởng học sinh nam.

Thời gian này tôi hoạt động bí mật trong đoàn Học sinh Kháng chiến của Việt Minh. Một hôm, Vĩnh Sum phụ trách bạo động trong đoàn nhờ tôi cất hộ 5 trái lựu đạn. Mang về giấu trong nhà dưới gầm giường, không may bị cha tôi phát gíac. Chẳng nói chẳng rằng ông mang đi vất, rồi nói với tôi : « Tao ghi tên cho mi lên học trường trung học Pèlerin (trường của các Sư huynh Thiên chúa giáo), không học Khải Định nữa ! » Tôi quyết liệt không chịu, lấy cớ mình là Phật tử không học trường đạo. Vài ngày sau ông đấu dịu, đánh vào tâm lý trẻ con của tôi : « Mi lên học Pèlerin cho yên ổn, tao mua cho chiếc xe đạp. » Số là thời gian ấy tôi mơ xe đạp như các bạn học đồng lứa. 

Nhưng tôi cũng chẳng vừa, báo cáo lên đoàn chuyện gay cấn cha mẹ bắt bỏ trường Khải Định nơi tôi đang hoạt động với nhiều kế hoạch. Lệnh ở « trên » (chẳng biết trên nào, ở đâu, ai) chỉ thị tôi chấp nhận học Pèlerin để hoạt động, vì « bọn trên đó  khá phản động với kháng chiến, chẳng phản ứng chi tới tình hình đất nước ». « Trên »  nhắn vậy. Thế là tôi vừa có xe đạp vừa tiếp tục « kháng chiến » ! Và cũng từ khi nhập học, hàng tuần xuất hiện truyền đơn kháng chiến ở Pèlerin, chuyện chưa hề xẩy cho các Frères (Sư huynh).

Ở Pèlerin tôi ngồi bàn đầu cạnh Hảo. Chúng tôi cùng  nhau đánh bạn. Hảo láu táu sính nói, ngay lúc Frère (tức Sư huynh đứng lớp) đang giảng bài. Hảo nói, tôi nghe, vậy mà lần nào Frère Archange cũng phạt cả ai đứa. Bãi lớp học trò ra về, hai chúng tôi phải vào Nhà Nguyện đọc kinh Đức Mẹ, khi ba chục lần, khi năm chục, có khi lên 100 lần. Vào Nhà Nguyện, Hảo lại nói chuyện tía lia không đọc kinh, hoặc chọc cười tôi Hảo đọc Lạy ông thánh Phê-rô thành Lạy ông thánh Xia-rô… May Frère Archange không đi đi lại lại quan sát như thường khi, có ông chắc chúng tôi sẽ phải đọc kinh suốt đêm.

Hảo con ông Lê Văn Tập, một phú gia ở Hàng Bè có môn bài bán gạo, muối. Hảo hay rủ tôi ghé nhà. Căn nhà rộng thinh, lạnh lẽo, tăm tối, chất những bao gạo hay muối. Tôi ngạc nhiên thấy xây một phòng nhỏ tí, bốn bề tường xi măng xám xịt chừa khung cửa nhỏ, nơi Hảo vào học bài. Hỏi mới biết bị ông thân phạt. Hảo bảo trước kia ở trên lầu. Vì hay qua phòng chị thăm, chị cùng cha khác mẹ, mà « chị đẹp lắm », theo lời Hảo. Sau này qua Pháp Hảo kể trước khi rời nước đến chào từ giả bà chị này, lúc đó đã thành bà Đào Đăng Vỹ. Buổi trưa bà nằm trần truồng trên giường tuyệt đẹp khiến Hảo xao xuyến, mất hồn. Đời Hảo thiếu tình thương, vì mẹ Hảo, bà thứ hai trong nhà, đã trầm mình xuống giếng quyên sinh khi Hảo còn nhỏ. Suốt đời Hảo thầm kín quyến luyến với mọi phụ nữ hiền dịu. Thời theo học ngành Dân tộc học ở Sorbonne, Hảo vào đạo Thiên chúa cũng vì nhan sắc một cô đầm sinh viên trong chuyến hành hương Phục sinh về nhà thờ Chartre theo truyền thống Charles Péguy.

Hai chúng tôi như có duyên nợ nên sau bao thăng trầm vẫn gặp lại nhau. Một hôm cơ quan An Ninh Huế đến trường Pèlerin bắt tôi. Nhưng các Frères can thiệp không muốn gầy động học sinh, yêu cầu chờ tan học tôi về nhà hãy bắt. Nhớ mãi sáng ấy tới giờ ra chơi, Frère Arsène người có cảm tình đặc biệt với tôi, ngoắc tay gọi lại nói chuyện. Frère bảo : « Ái, sao mày không lo học mà làm chính trị hở ? » Tôi cười đùa : « Frère nói chi lạ, con lo học có biết chính trị gì đâu ! » -- « Ừ tao báo cho mày biết, liệu cái thân đi con. ». Trưa ấy, đạp xe về tới nhà An Ninh đã ngồi chờ hốt đi. Đó là năm 1949. Từ đó tôi không còn gặp Hảo.

Tôi sang Pháp cuối năm 1955. Một hôm sau khi ngồi học ở Thư viện Saint Geneviève cạnh Panthéon ở Paris quận 5 cho ấm lúc sang đông, ra trạm tàu hầm/métro Luxembourg về phòng trọ. Lững thững trên bến chờ xe, bỗng gặp lại Hảo.  Mừng rỡ lấy địa chỉ nhau hẹn gặp lại chủ nhật. Hảo thuê nhà ở Bourg-la-Reine, ngoại ô Nam Paris. Tôi đến thăm thấy một ông tây con ăn mặc sạch sẽ, thắt cà vạt. Hôm ấy anh chuẩn bị bài thuyết trình hôm sau. Hảo trịnh trọng đi lui đi tới trong phòng, tay cầm giấy, mắt nghiêm trang theo chữ, giọng đọc uốn éo, diễn xuất trầm bổng. Từ đó chúng tôi thường gặp nhau. Sau này Hảo dọn lên ở Khách sạn Sommerard cạnh Sorbonne theo học Văn chương. Những lúc tôi sa cơ không nhà ở, Hảo cho tôi tá túc trong căn phòng chật hẹp. Khách sạn tây nhưng dành toàn phòng cho sinh viên Việt Nam thuê. Đêm Hảo ngủ trên giường, tôi kê nệm mỏng dưới chân giường. Có những tập tục tôi mới sang Pháp chưa quen. Mỗi sáng còn ngái ngủ, Hảo dậy đi tiểu, nhưng nhác ra phòng vệ sinh công cộng ở mỗi tầng. Một chân kẹp sát người tôi, một chân choàng qua tôi chống lên bồn rửa mặt đái một trận. Lúc đầu hơi ghê. Vừa là bồn rửa mặt vừa là bồn đái của cậu Hảo, sao có chuyện lạ đời. Nhớ bên nhà khi mẹ phơi áo quần giặt ngoài vườn, dặn tôi đi ngang không được bước dưới quần đàn bà. Nay tôi nằm dưới hạ bộ một cậu đàn ông.

Sau này Hảo theo Cộng sản Tết Mậu Thân gia nhập Liên minh, làm chức lớn ngang ngửa với Thị trưởng thành phố Huế. Mặt trận vỡ rút vào núi, Hảo ra Hà Nội mười năm ăn cơm báo cô, ngồi chơi xơi nước tại nhà Thống nhất dành cho cán bộ miền Nam. Hảo kể tôi nghe những năm vô tích sự ấy, ngày mấy bữa cơm, dự học các khoá chính trị duy vật sử quan, hay đi truyên truyền các nước bạn cho chế độ. Nhưng Hảo tiết lộ, mỗi đêm đều leo tường vào chốn « thanh lâu » với sự hướng dẫn của anh em nghệ sĩ ngoài nớ.

Tôi đọc trên tạp chí Études Vietnamiennes xuất bản ở Hà Nội bằng tiếng Pháp do ông Nguyễn Khắc Viện chủ trương, viết về tiểu sử Hảo. Có hai chuyện không đúng. Một bảo rằng thời nhỏ ở Huế, Hảo hoạt động cho Học sinh Kháng chiến là sai. Thuở ấy Hảo chơi thân với tôi, con nhà giàu, ham học, chẳng biết chi khác. Tình hình chiến tranh Pháp Việt, đất nước ngửa nghiêng chẳng bao giờ Hảo để tâm, tôi có đề cập cu cậu cũng dửng dưng. Sau này ở Pháp y cùng tâm trạng. Tôi đoán Hảo lấy trường hợp tôi ghép vào anh chăng ? Tiểu sử cũng ghi thời ở Pháp Hảo hoạt động cho « cách mạng ». Tôi ngờ lắm, vì bản tính Hảo yêu quê hương, sông nước, hát hò, nhưng bất chấp chuyện thời thế, hoạt động. Lúc sắp sửa trình luận án tiến sĩ để về nưởc, Hảo cưới vợ, mời tôi làm nhân chứng phụ rể. Vợ Hảo con một đại phú gia họ Nguyễn, có mấy chiếc tàu lớn mua từ Nam Tư, tay chân tín cẩn của gia đình ông Ngô Đình Diệm. Hảo đặt tên Kiều Giang cho con gái đầu lòng, ghép tên cô Kiều tài hoa với cô Giang cách mạng.

Giai đoạn duy nhất Hảo dấn thân mà tôi chứng kiến, là sau thời Phật giáo thành công cuộc tranh đấu cho tự do tín ngưỡng năm 63. Lúc ấy Hảo đến làm việc hằng ngày, rất hăng say, với Đoàn Sinh viên Phật tử Paris do tôi thành lập, trụ sở đặt tại số 55, đường Doudeauville, Paris quận 18. Nguyên do dính dáng « cách mạng », có thể là một hôm tôi dẫn Hảo cùng đi thăm ông Võ Thanh Minh, Huynh trưởng Hướng đạo kỳ cựu cùng lớp với các ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu… Thời ấy, ông Minh bị chính phủ Thuỵ Sĩ trục xuất sang Pháp, ông tá túc trong một vỏ xe van trơ trọi nằm trên ngọn đồi trọc ở thị trấn Villejuif, ngoại ô nam Paris. Chúng tôi vừa đến thì thấy ông bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, lãnh tụ Việt Kiều theo Hà Nội tại Pháp, vừa bước khỏi xe van từ giả ông Minh. Hai người đồng xứ Nghệ. Ông Minh giới thiệu ông Viện cho hai chúng tôi. Người cộng sản động viên nhân dân giỏi và có bài bản. Họ luôn ở thế kẻ đi săn, tuyệt đối không để mất con mồi. Nhử bằng tình cảm, họ lo lắng, chăm sóc, nhất là ai ở hoàn cảnh thất thế, thất nghiệp. Ông Viện thăm viếng thường xuyên ông Minh, nhờ dịch thuật một số bài vở, để lấy cớ giúp tiền. Ông Minh kể cho tôi nghe và nói về gia thế ông Viện. Trong nhà có hai anh em đi hai đường ngược chiều, một người làm tu sĩ Thiên chúa giáo, một người theo Cộng sản. Không ngờ dịp gặp gỡ ngắn ấy, ông Viện liền đuổi theo con mồi Lê Văn Hảo, móc nối Hảo để sau này về Việt Nam hoạt động trong Đại học Huế cho cách mạng.

Sau 75, nhiều lúc tôi nghĩ tới Hảo vì mường tượng nếu có Hảo tại Pháp chúng tôi sẽ kết hợp nhau vận động cho nhân quyền, tự do.
Thế rồi, một ngày bỗng nghe tin Hảo qua Pháp theo lời mời của các bạn Pháp ở Đại học Paris. Anh ở lại không về rồi xin tị nạn. Thời kỳ này tạp chí Quê Mẹ có cuộc phỏng vấn Hảo về nội tình Mậu Thân Huế. Bài phỏng vấn gây tức tối cho nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân cũng như Hà Nội. Nhân một lần qua Pháp, Nguyễn Đắc Xuân về viết bài đăng trên báo Văn Nghệ cuộc gặp Hảo tại Bảo tàng viện Louvre, cao ngạo tự đắc tả cho mọi người hiểu Giáo sư tiến sĩ Hảo xưa, nay chỉ là anh gác-dan Bảo tàng viện Louvre. Giọng điệu tiểu nhân đắc chí, không biết rằng ở Tây phương chẳng ai coi rẻ con người vì nghề nghiệp. Trong đám clochards nằm lề đường, dưới gầm cầu ở thành phố Paris có những kẻ học vị tiến sĩ, cử nhân. Ngày xưa Xuân là học trò của Hảo ở đại học Huế, nay học thói tình nghĩa Cộng sản xem thầy cũ như thứ nhân, vì thầy hết làm đồng chí. 

Sau này vài lần Hảo đến giúp chúng tôi dịch thuật tài liệu nhân quyền.
Đời Hảo long đong việc tình ái và sự nghiệp. Một người bạn dễ mến, có tình, nhưng hay thay đổi. Tôi ngờ rằng Hảo mất tình mẫu tử từ bé trong một gia đình phú gia bạc tình, khiến Hảo bơ vơ, khắc khoải. Hảo cứ phải tìm kiếm những điều phôi pha như bóng nước, ảo ảnh, trong khi cuộc đời thực tế đến phũ phàng, vốn chỉ biết « dụng nhân như dụng mộc ». Ai cũng là thợ mộc, chỉ con người hồn hậu, lạc loài như chúng ta mới bị dần dà biến ra cái đòn, chiếc ghế, nếu không là gông đeo kẻ tử tù.

Mấy năm tôi cố tìm Hảo. Nhưng chẳng thấy. Điện thoại không chuông ren. Thư viết chẳng hồi âm. Cho đến ngày nhận được bài viết năm 2017 kể trên của Đặng Thế Kiệt. Gọi điện hỏi Kiệt mới biết Hảo đã mất từ năm 2015. Cớ gì ? bệnh gì ? Chẳng ai hay biết.

Lòng tôi bùi ngùi, như có cái thót thốn tâm.

Vĩnh biệt Hảo, người bạn nhỏ trường Dòng Huế cạnh dòng Hương xa lắc.



Saturday, March 4, 2023

hai con ma ở Củ Chi


Cha tôi ở nhà cấm kể chuyện ma, vì ông vốn tin vào khoa học và cho đó là những chuyện hoang đường. Tuy vậy, tôi cũng được nghe nhiều chuyện ma li kì dễ sợ. Có điều, trong những chuyện đó, người kể chuyện đều nói đã nghe người khác kể lại, chứ không ai nói chính mình đã thấy ma tận mắt bao giờ.

Hồi đó, nhà tôi ở gần một khu biệt thự, ban ngày tôi vẫn thích đi qua những ngôi nhà khang trang, vườn rộng xanh um, tĩnh mịch. Nhưng tối đến, thì không dám qua khu đó bao giờ, dù khi có việc cần, thà phải đi đường vòng thật xa. Nhất là chỗ một góc đường, có cái cây cổ thụ, như một loại cây đa, rễ lộ thiên mọc lòng thòng như những cánh tay dài đen đủi, chỉ sẵn sàng chụp lấy cổ mình mà rút lên cao. Nguyên do là mấy đứa bạn học kể cho nghe câu chuyện ma ở đây. Có một người đàn bà trong xóm, bị chồng ruồng bỏ, đau buồn quá, một đêm ra đây tự treo cổ chết. Tụi nó kể vào những đêm trăng sáng, người ta nhìn thấy trên một cành cao, bóng một người đàn bà áo trắng giăng võng, ôm trong lòng một đứa con, ru qua ru lại và hát mãi một câu ca dao: "Ầu ơ ... Gió đưa bụi chuối sau hè, Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ."

Sau này, vào một mùa hè ở Pháp, tôi có dịp đến Caen thăm bạn bè cùng đi du học một lượt với nhau. Buổi khuya hôm đó, không hiểu lí do nào, lại có người đem kể chuyện ma. Chỗ chúng tôi ở đó là một cư xá sinh viên. Cách đó khoảng một năm, có một người nữ sinh viên thất tình gì đó, thắt cổ chết trong một phòng tắm ở đây. Tôi lúc đó đã lớn rồi, đâu còn sợ ma, vậy mà tối hôm đó, ngó qua cửa sổ thấy trời âm u, nghe tiếng cây kẽo kẹt ngoài vườn, cũng không khỏi rợn mình nổi gai ốc. Đường về phòng trọ ngang qua một nghĩa địa. Lần đó, tôi phải rủ hai ba người cùng đi cho đỡ sợ.

Nhà tôi sanh quán ở Tân Phú Trung, gần địa đạo Củ Chi. Nhà tôi nhát ma lắm. Có lần kể cho tôi nghe chuyện này. Hồi đó, Là (tên vợ tôi) sắp thi bằng Tiểu học. Trường học ở Lái Thiêu, hôm đó các bà sơ (sœurs) lo lập hồ sơ dự thi, mới biết Là chưa có giấy khai sanh. Chiều hôm đó, Là phải lấy xe đò về nhà gấp để lo giấy tờ cho kịp thời hạn. Về đến đầu làng, thì trời đã nhá nhem tối, mà đường về nhà phải qua mấy gò mả. Là sợ lắm, nhưng vì việc quan trọng và nhờ quen lối, nên bặm gan đi. Hai mắt nhắm hí hí, hai tay nắm chặt, mỗi ngón cái giấu trong lòng bàn tay — cho khỏi bị ma dẫn đi, Là xăm xăm theo con đường đất về nhà. "Bình!" một cái, Là sợ điếng cả người, chưa kịp hoàn hồn, đã có tiếng quát to: "Đứa nào đi đâu giờ này tối thui?". Lúc đó, Là mừng tưởng đứng cả tim, vì vừa nhận ra giọng nói quen thuộc của bác Hai. "Dạ, con Là đây". "Trời ơi! Con Là. Chút xíu nữa là tao tưởng là ma." 

Hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, tôi theo Là về thăm quê ngoại. Đó là con đường đất đỏ, trông cũng tạm sạch sẽ. Tôi không còn thấy những bụi tre xanh um tùm mọc hai bên đường nữa. Nhìn ra bên cạnh, vẫn còn dấu vết một vài bia mộ, cạnh có nhang đỏ cắm trên những chén sứ màu xanh và trắng. Nhưng hoàn toàn không còn đâu những vết tích của một cuộc chiến tranh dằng dặc.

Đó là lần đầu tiên và cho đến bây giờ vẫn là lần duy nhất, có người kể cho tôi nghe đã thấy ma tận mắt mình, giữa thanh thiên bạch nhật.

Lạ thật, lần nào cũng vậy, đang nói chuyện trên trời dưới biển, thế rồi có ai nhắc tới một cái gì đó, thế là có người xoay qua kể chuyện ma. Lần này là ông dượng Năm của Là, kể chuyện cho tôi nghe. Đó là vào thời kì cuối, chiến tranh trở nên khốc liệt. Trong làng, có một chú không nhà, người trong làng coi như một kẻ ăn mày đầu đường xó chợ, một hôm đến từng nhà nằn nì nói với mọi người mau mau di tản, vì chú biết đêm đó sẽ đụng độ lớn. Chú nói chắc như đinh đóng cột, bởi vì chú mỗi ngày đi lang thang từ đầu làng tới cuối làng, từ bìa quận tới cuối bưng, chú biết rõ những gì hai phe quân  thù địch đang chuẩn bị. Sống quen với bom đạn từ mấy chục năm qua, gần như chẳng ai chú ý đến lời chú nói. Đêm hôm đó, súng đạn điên cuồng. Sáng ra, không biết bao nhiêu là xương thịt tan tành. Xác người nát bấy ngập đường đất, bờ giậu, máu chảy tràn những con rạch trong làng, cuốn theo những bông hoa bụt màu đỏ thắm. 

image Internet
Nhiều tháng sau, dượng Năm kể, bữa đó, ngay giờ Ngọ, dượng đang nằm võng ngó ra đường. Bỗng thấy xa xa có bóng hai người áo trận, dựa vai nhau đi mà gần như muốn té từng bước chân. Dượng Năm nhổm mình lên nhìn kĩ, rõ ràng là một người lính áo vàng và một người lính áo xanh khoác tay nhau đi, từng mảng máu nhuộm đẫm vạt áo, ống quần. Hiện ra, biến mất. Hai ba lần như vậy. Hiện tượng xảy ra y hệt nhiều ngày sau.

Ngay lúc kể chuyện, vào khoảng mười hai giờ trưa, dượng Năm cũng đang nằm trên võng. Tôi ngó ra con đường đất bụi đỏ trước sân nhà, bỗng thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc theo xương sống. Hai bóng người áo đen vừa xuất hiện từ xa. Tôi cố trấn tĩnh, hóa ra đó chỉ là hai người dân làng tình cờ đi ngang. Lúc đó, thực ra tôi không mấy sợ, nhưng một niềm hoang vắng xâm chiếm cả tâm hồn. Giọng nói của dượng Năm, người nông phu chất phác gần như cả đời sống với chiến tranh, chỉ mong một ngày được yên ấm làm ăn, kể nghe đều đều. Ba mươi năm về trước, thầy Hai Chích, làm nghề y tá trong làng, mê người chị dâu của dượng Năm, nhưng không được đáp ứng, đem cáo gian dượng là Việt Cộng. Dượng Năm vào tù, bị tra tấn dã man. Sau nhờ chị dâu lo lót, vả lại dượng cũng chẳng biết gì để khai, nên được thả về. Sau 1975, cả nước sống dưới chế độ Cộng Sản, gia đình dượng Năm chỉ sống nhờ vào những thửa ruộng mà chị Tư (má của Là) để lại Việt Nam, khi theo chồng về Pháp từ nhiều năm trước đó. Ấy thế mà cũng chẳng yên thân, xã trưởng hoặc công an trong làng, biết gia đình dượng Năm nhận tiền giúp đỡ từ ngoại quốc, vẫn thường xuyên đến nhà, kiếm chuyện mõi tiền, đánh thuế...

Không biết cô hồn của hai người lính chết tức tưởi sẽ còn vất vưởng tới bao giờ?





Đặng Thế Kiệt
01.08.2005








Friday, March 3, 2023

mực, mực ô!


Người hướng dẫn Thái Lan giới thiệu trái sầu riêng cho đoàn du khách, nói nó có mùi fromage. Đây là những du khách đến từ Pháp, nên ai cũng hiểu ngay. Đề tài sầu riêng có vẻ hấp dẫn, mọi người đều tò mò muốn có dịp đi xem chợ Bangkok để biết thêm. Nói chuyện nhẩn nha với bà đầm ngồi ghế xe bên cạnh, bỗng xoay qua chuyện ăn thịt chó. Lạ lắm, đề tài thịt chó này bao giờ cũng lôi cuốn khá nhiều. Đại khái, người Âu Mĩ có thành kiến coi sự ăn thịt chó có phần dã man. Tôi không biết tục ăn thịt chó ở Việt Nam có từ bao giờ, song có lần đọc báo biết các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết xương chó trong bữa ăn người Gaulois ở Bretagne từ những thế kỉ xa xưa.

Bố mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, nhưng gia đình không ăn thịt chó. Tuy nhiên, mẹ tôi đã nấu cho ăn một hai lần món giả cầy, tức là cách nấu giò heo với củ riềng theo lối làm thịt chó. Bây giờ, mấy chục năm sau, tôi còn nhớ mùi béo ngậy thơm ngon.
Tới khi du học sang Pháp, bạn bè tán gẫu với nhau, cũng không tránh khỏi đề tài ăn thịt chó. Hình như tôi chưa gặp ai thú nhận mình đã ăn thịt cầy bao giờ. Có một anh bạn người ở Nha Trang kể rằng có biết một thằng bạn chỉ ăn thịt chó có một lần, sau đi đâu cũng bị chó sủa. Anh bạn còn kể chuyện một sinh viên sang Vatican Ý Đại Lợi tu học làm linh mục, có lần đứng góc đường, trông thấy một con chó đi ngang, bỗng thèm rỏ dãi. Chuyện về ăn thịt chó này của bà xã tôi có lẽ thú vị hơn cả.

Hồi lên năm sáu tuổi, nhà tôi ở với bà dì, xã Tân Phú Trung, cách Củ Chi khoảng mười cây số. Bà dì mắn con, đẻ năm một, nhà tôi giữ việc bồng em, đưa võng cho chúng nó ngủ. Trong nhà có nuôi một con chó mực. Mỗi lần có đứa em nào ỉa ra nền đất, dì Năm đứng kêu to: "Mực, Mực ô!". Thế là con chó mực ở đâu chạy lại, ăn hết cục cứt vàng, rồi còn le lưỡi liếm đít đứa bé một cái cho sạch. Sau con chó mực già yếu, bộ lông đen mướt trở thành xơ xác, nó chỉ còn biết nằm phơi nắng trên sân, lấy lưỡi liếm mụn ghẻ lở ngoài da. Dì Năm thấy nó tội nghiệp, bèn kêu một bà trong xóm di cư gần nhà lại, đem cho con mực. Bà di cư mặt mày tươi rói.

Không biết hôm đó, con chó mực già kết liễu đời mình trên một mâm cơm thịnh soạn hay trên quầy bán thịt trong làng.




ghi chú:
bài này trích từ blog "tiếng Việt"
http://tieng-viet-dtk.blogspot.com/2012/09/muc-muc-o.html



Wednesday, February 22, 2023

Bùi Giáng và một mối tình thơ



Vỗ Về

Ta đứng lại bên này chờ đợi
Ồ phải không? Em đó phải không
Ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy
Đời chúng ta là mấy trăng tròn
Ngày vui ngắn? lòng đã vơi mấy bận
Ngày vui đi? mấy bận giữa lòng ta
Đổ lây lất mưa về xuân lấm tấm
Ồ thiều quang tan biến vội sao mà
Em có khóc? ta xin em đừng khóc
Em nhìn ta? lệ chảy có vui gì
Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc
Nước xuôi giòng ngàn thu hận tan đi.


Bùi Giáng 
(1926-1998)


=§=

Hồi đó, vào khoảng những năm 1999-2004, tôi tham gia một diễn đàn Yahoo  Groupes, có tên là Lớp Hán Việt, chuyên đề về chữ Hán và chữ Nôm. Thỉnh thoảng cũng thảo luận lan sang thời sự hoặc thơ phú.

Một hôm, vào năm 2004, tôi tình cờ đọc được trên Internet bài thơ "Vỗ về" ghi trên, thấy rất hay, nên đưa lên diễn đàn cho mọi người thưởng thức. Bài thơ rất giản dị, lời thơ cảm động.

Nhưng có hai câu cuối mông lung ẩn mật lạ kì.

Trong diễn đàn có anh Frank Phạm Hải cũng lên tiếng mổ xẻ phân tích, nhưng thật ra chỉ giả thuyết mơ hồ.

Chợt có một mail của Thi Vũ gởi lên làm tôi hết sức bất ngờ — vì tôi biết nhà thơ Thi Vũ chính là Võ Văn Ái, chủ nhiệm tạp chí Quê Mẹ —, mà sao lại lên đây bàn luận chi mô.

Xin mời đọc bài viết của Thi Vũ trước đã.

########################
Ðôi lời riêng gửi hai Vị yêu thích thơ Bùi Giáng : Ðặng Thế Kiệt và Phạm Hải.

Vừa đây đọc mấy lời trao đổi giữa hai vị về bài thơ Vỗ Về của Bùi Giáng, tôi lưu ý và cảm động mối tình thơ của hai vị đối với thi hào Bùi Giáng.

Với 2 câu cuối đưa ra bàn thảo :

Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc
Nước xuôi giòng ngàn thu hận tan đi

Ông Phạm Hải và nhiều vị cùng cố công tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của hai câu ấy. Tấm nhiệt thành với thơ của quý vị thật trang trọng.

Tuy nhiên, muốn tiếp cận thơ Bùi Giáng, cần hai yếu tố :

1. Suy tỏ nguồn triết học đang ám ảnh Bùi Giáng, và, người ông đang yêu thời sáng tác bài thơ, để nắm bắt ngữ nghĩa thơ Bùi Giáng. Bùi Giáng suy luận triết học không đơn tuyến, và tình yêu thì ông cũng say đắm lắm người. Dù "yêu nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu". Bởi đa số người đẹp trong đời yêu thơ, nhưng không lấy chồng thi sĩ ; 

2. Ði vào thơ như con người hòa đồng cùng vũ trụ. Xem tranh Tàu, ắt hiểu cách con người len vào chốn thái không. Nên sống thơ. Chớ "hiểu" thơ. Khi ta nhìn ngọn lá non lúc xuân tới, khi ta ngắm một đóa hoa mỹ miều, hay khi chiêm ngưỡng gương mặt người ta yêu... ta "hiểu" gì ? Chẳng hiểu gì rốt. Dù lòng cứ mưng lên một niềm sống thiết tha, yêu mến. Thơ cũng vậy. Thơ để cho ta sống, làm ta sống, chuyển hóa ta. Bởi vậy tôi muốn tiếp cận thơ hơn là hiểu thơ. Có thể hiểu thơ cách quy phạm trường ốc. 

Nhưng cách thông thái ấy lắm khi giết mất thơ. Chữ "hiểu" trong tiếng Pháp gọi là comprendre, tiếng Anh understand, tiếng Ðức verstehen, v.v. Các chữ ấy từ nguyên khôi là với lấy, nắm bắt (prendre avec), đứng nhìn từ trên, từ dưới, từ xa để sát lại ôm chầm vào lòng (under-stand, ver-stehen).

Yếu tố thứ hai nhằm tiếp cận bài Vỗ Về của Bùi Giáng xin dành để cho kinh nghiệm riêng của mỗi người đọc. Mỗi phát kiến, mỗi cách hiểu là một hành trình nắm bắt thơ, nắm bắt lối sống trên cái sống nhàm, sống mòn nơi cõi vong thân.

Ở yếu tố một, cần biết thời gian Bùi Giáng sáng tác bài Vỗ Về, in trong tập Mưa Nguồn, xuất bản tại Saigon năm 1962, là thời Bùi Giáng yêu (hờ) một hoa hậu của Miền Nam thời đó, có tên Thu Trang. Sau người này đi Pháp lấy chồng Pháp. Vì vậy nhiều bài thơ của Bùi Giáng có dấu vết của "thu", của "trang", mà 2 câu được trao qua đổi lại trong mấy ngày qua còn lưu dấu :

Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc
Nước xuôi giòng ngàn thu hận tan đi


Trong tập Mưa Nguồn có cả bài mang tựa đề "Xuân Thu Trang Phượng", đây đó còn những câu thơ ghi vết  "thu" ghi vết "trang" một thời thi sĩ mở lòng nơi cõi trống vắng :

Ta về mở mắt nhìn xem
Trang mờ em vẫn là em Thu đầu

(Thưa em Sài Gòn)

Trời Tây phương tuyết phai nhòa
Tấm thu bỏ lạnh bên tà áo bay
...
Mai kia cỏ héo đầu ghềnh
Ngó sang trời lạ thấy mình mất thu

(Người Hải ngoại)

Người đi bỏ lại giữa người
Tiếng vang ngần ấy rạc rời vọng âm
Trang hồng trang sử lịch trang
Thu hồi viễn vọng vô ngần nghiệt ma

(Tặng bạn)

Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Âm trang sử lịch thu triền miên trôi

(Mắt buồn)

Em về rắc cỏ tháng ba
Xuống trang hồng hạnh thu già in rêu

(Phượng)

Vân vân và vân vân.

Nhưng nói như trên không có nghĩa là thơ Bùi Giáng ngưng đọng nơi mối khóc sầu cho một cái tên đi qua đời ông trong một giai đoạn nào đó. Vì nói như thế là phụ ông rồi. Từ ngữ, người, ý tưởng... tất cả chỉ lá cái cớ cho thi nhân bộc lộ, vén mở (Unverborgenheit theo nghĩa của Heidegger) một chân trời từ đôi mắt anh nhi.

Thi Vũ

mail: Saturday 24, April 2004
########################

Bài viết hay quá. Đọc xong tức khắc nắm trọn bài thơ Vỗ Về. Đồng thời khám phá một mối tình thơ mộng không cùng.

Hơn thế nữa, đây chính là một Tuyên ngôn về Thơ của Thi Vũ.

Tạm thời, trong khuôn khổ đề tài ở đây (về bài thơ Vỗ về), xin chỉ nói thêm đôi điều thú vị về nhà thơ lạ lùng có một không hai của Việt Nam là Bùi Giáng.

Trước đây, tôi đã đọc qua vài cuốn sách của Bùi Giáng, lâu lâu bắt gặp ông đùa cợt với Marilyn Monroe, Brigitte Bardot, nữ nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Thanh Thúy, ca sĩ Hà Thanh..., nghĩ ông chỉ tàng tàng chút chơi.

Đọc xong bài viết của Thi Vũ, tôi nhớ ngay đến cuốn Đi vào cõi thơ của Bùi Giáng, mua được nhiều năm trước đó — và hình như có duyên nợ với câu chuyện nhắc đến hôm nay —.

Vào khoảng những năm 1979-1980, tôi lang thang ở khu Xóm Học Quartier Latin, rue de la Huchette, con hẻm nối liền trạm métro Boulevard Saint-Michel và Nhà thờ Notre-Dame trên sông Seine. Chợt gặp một tiệm nhỏ lụp xụp bán sách tiếng Việt. Vào xem, thấy vài quyển sách rất xưa, như Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, như Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, chẳng hạn. 

Ngoài ra, tôi còn để ý đến một tập mỏng nhan đề Đi vào cõi thơ

Rõ ràng đây là một cuốn sách cũ ai đã đem bán lại cho nhà sách (livre d’occasion).

divaocoitho-buigiang-bia-1-4.jpg


divaocoitho-buigiang-thutrang.jpg

Vậy là cô Thu Trang đây rồi.

Tôi tò mò tìm hiểu thêm về nhân vật Thu Trang này.

Đây là một trang Wikipedia với khá nhiều chi tiết tương ứng với bài viết trên của Thi Vũ: 
https://vi.wikipedia.org/wiki/Công_Thị_Nghĩa
trích dẫn:
Công Thị Nghĩa (sinh năm 1932), hay còn gọi là Hoa hậu Thu Trang, là một điệp viên, nhà báo, và là Hoa hậu đầu tiên của Việt Nam. Bà từng là thành viên đoàn chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Pháp, nguyên tổng thư ký Hội Khoa học xã hội của Hội Người Việt Nam tại Pháp. Bà còn được biết đến với một vai trò khác là tiến sĩ sử học.

Một hôm, vào dịp đó (2004), đọc phụ bản cuối tuần chuyên về văn chương báo Le Monde trong một Forum (*01), tôi gặp đúng một bài viết kí tên Flora, dịch bài thơ Vỗ Về sang tiếng Pháp ("avec l'accord de l'auteur") như sau:



Traduction libre de Flora
 
Consolation
 
Ici, je t'attends, debout, de ce côté
Oh, c'est toi ? Est-ce bien toi.
Je compte sur mes doigts tremblants
A combien de pleines lunes se résume votre vie à nous ?
Les jours heureux sont courts ?
Combien de fois pour l'âme
Les jours heureux sont partis ?
L'âme compte pour combien
Ici, le printemps arrive avec une petite pluie, aux vents
Les rayons de soleil disparaissent, mais pourquoi 
Pleures-tu ? Je te prie, ne pleure pas chérie
Me regardes-tu ? Les larmes ne peuvent pas apporter de joie
A la sources des flamboyants, voici des pages ouvertes, tu peux les lire mon ange
Le cœur d'eau des milliers d'automnes va emmener et diluer
Tes peines, mes peines, nos peines.

Flora. 


Đặng Thế Kiệt
2023-02-22








Chú thích


edit 2023-04-08

(*01) sau đây là 1 email trên hanviet@yahoogroups.com (2004) và 2 emails trao đổi với báo Le Monde (2023) về bài thơ Vỗ Về:

1.1.
From: dangthekiet2002@yahoo.fr [mailto:dangthekiet2002@yahoo.fr] 
Sent: Friday, April 23, 2004 6:48 AM
To: hanviet@yahoogroups.com
Subject: RE: [hanviet] Du+ng que^n Bui Gia'ng

Anh Frank,
 
Bai nay to^i ti`nh co+ lu+o+m duo+.c tre^n Forum ba'o Le Monde (Pha'p). (Ba` ?) Flora da~ di.ch thoa't (traduction libre), nhu+ng theo lo+i ghi tre^n forum, vo+' su+. do^ng y'  cu?a ta'c gia? (avec l'accord de l'auteur).
(...)

DTK

1.2.
from: d- tk <dangthekiet2002green@gmail.com>
to: droitsdauteur@lemonde.fr
date: 4 Apr 2023, 11:12
subject: Recherche d'un ancien article du Monde littéraire
mailed-by: gmail.com

Bonjour,

Je souhaite retrouver un ancien article du Supplément littéraire du Monde vers l'année 2004.
La trace qui me reste de cet article, est l'extrait du texte et le nom de l'auteur :

Traduction libre de Flora :
 
Consolation
 
Ici, je t'attends, debout, de ce côté
Oh, c'est toi ? Est-ce bien toi.
Je compte sur mes doigts tremblants
A combien de pleines lunes se résume votre vie à nous ?
Les jours heureux sont courts ?
Combien de fois pour l'âme
Les jours heureux sont partis ?
L'âme compte pour combien
Ici, le printemps arrive avec une petite pluie, aux vents
Les rayons de soleil disparaissent, mais pourquoi 
Pleures-tu ? Je te prie, ne pleure pas chérie
Me regardes-tu ? Les larmes ne peuvent pas apporter de joie
A la sources des flamboyants, voici des pages ouvertes, tu peux les lire mon ange
Le cœur d'eau des milliers d'automnes va emmener et diluer
Tes peines, mes peines, nos peines.


Flora. 


Merci pour votre aide

DANG

1.3.
from: Le Monde Syndication <syndication@lemonde.fr>
to: d- tk <dangthekiet2002green@gmail.com>
date: 4 Apr 2023, 11:21
subject: Re: Recherche d'un ancien article du Monde littéraire
mailed-by: lemonde.fr
Signed by: lemonde.fr
security: Standard encryption (TLS) Learn more
: Important according to Google magic.

Bonjour,

Je vous remercie pour votre message.

Malheureusement, je ne trouve rien dans nos archives sur ce texte. 
Auriez-vous plus d'informations, tels que le titre ou le nom de l'auteur ?

Bien cordialement,

Eleonora Pizzi
Le Monde Syndication
67-69 Avenue Pierre-Mendès France
75013 PARIS










Phụ lục

Sau khi viết bài trên (2023-02-22), tìm hiểu thêm về Thu Trang trên mạng Internet, không ngờ đã có khá nhiều tài liệu phổ biến từ 10 năm nay (2012-2022).

Truy cập trên Google trong 2 ngày (2023-04-03 và 2023-04-04), chúng tôi đã xem được 14 trang web sau đây:

(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Công_Thị_Nghĩa

(2) https://baophapluat.vn/doi-thang-tram-cua-hoa-hau-dau-tien-nuoc-viet-post386492.html
Đời thăng trầm của Hoa hậu đầu tiên nước Việt
Thứ Năm 25/03/2021 05:00 (GMT+7)

(3) https://baonghean.vn/hoa-hau-dau-tien-cua-viet-nam-tung-lam-diep-vien-bi-thuc-dan-phap-bat-giu-la-ai-post239534.html
Hoa hậu đầu tiên của Việt Nam: Từng làm điệp viên, bị thực dân Pháp bắt giữ là ai?
Danviet.vn
Thứ tư, ngày 02/06/2021 - 07:13

(4) https://kenh14.vn/chuyen-hoa-hau-dau-tien-cua-viet-nam-25-tuoi-bi-mang-mac-chua-hoang-quyet-dinh-tao-bao-va-lam-lai-cuoc-doi-ben-troi-tay-20210319081219238.chn
THIÊN YẾT, 08:32 19/03/2021

(5) https://vnexpress.net/cuoc-doi-hoa-hau-dau-tien-tai-viet-nam-2562568.html
Đời sốngTổ ấmThứ năm, 28/3/2013, 09:42 (GMT+7)
Cuộc đời hoa hậu đầu tiên tại Việt Nam

(6) https://www.youtube.com/watch?v=IIjfaKeof6U
Tiểu sử hoa hậu THU TRANG - Cuộc đời chìm nổi của Hoa hậu đầu tiên tại Việt Nam
1,011 views  Premiered on 13 May 2022  #tieusu #thutrang

(7) https://vietnamnet.vn/chuyen-it-biet-ve-hoa-hau-viet-nam-dau-tien-57726.html
GIẢI TRÍ
26/01/2012   13:03 (GMT+07:00)

(8) https://www.ugvf.org/vi/ai-la-hoa-hau-dau-tien-cua-viet-nam-va-bay-gio-ra-sao/
Union Générale des Vietnamiens de France
AI LÀ HOA HẬU ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ BÂY GIỜ RA SAO ?
19 THÁNG CHÍN 2021 14 h 16 min 00 3557 Views
SHARE
Trần Thị Hảo
Paris, tháng 1 năm 2019.
PS. Năm 2020, chồng bà, một người tận tụy, yêu vợ thương con hết lòng, đã rời cõi tạm, xa bà và các con mãi mãi. Bây giờ, bà lại rơi vào trạng thái nhớ nhớ quên quên….
Hao Tran, ngày 14/09/2021

(9) http://www.atabook.com/kien-thuc-pho-thong/thu-trang-cong-thi-nghia
Trang Chủ KIẾN THỨC PHỔ THÔNG Tác giả - Tác phẩm Thu Trang (Công Thị Nghĩa)
Cập nhật lần cuối vào ngày 27/12/2022
Atabook.com - Truyền bá tri thức.
Tác phẩm Thu Trang (Công Thị Nghĩa)


(10) https://arttimes.vn/san-khau-dien-anh/hoa-hau-diep-vien-thu-trang-cong-thi-nghia-c17a4607.html
Hoa hậu, điệp viên Thu Trang (Công Thị Nghĩa)
10-09-2021 15:08

(11) https://zingnews.vn/chuyen-hoa-hau-dau-tien-tai-viet-nam-va-nha-tho-dien-bui-giang-post1330781.html
Chuyện hoa hậu đầu tiên tại Việt Nam và 'nhà thơ điên' Bùi ...
zingnews.vn
https://zingnews.vn › Xuất bản
4 juil. 2022

(12) https://thuonghieuvang.net.vn/Print/887379.aspx
thuonghieuvang-Tien-si-su-hoc-Thu-Trang-Hoa-hau-dau-tien-cua-Viet-Nam-1.jpg
thuonghieuvang-Tien-si-su-hoc-Thu-Trang-Hoa-hau-dau-tien-cua-Viet-Nam-2.jpg

(13) https://nhacxua.vn/cuoc-doi-song-gio-cua-thu-trang-hoa-hau-dau-tien-cua-viet-nam-sau-1954/
Cuộc đời sóng gió của Thu Trang - Hoa hậu đầu tiên ...
2020/11/25 in Saigon xưa

(14) https://www.tiktok.com/@bicanthongthai/video/7158815446144191771


Các bài viết và hình ảnh  phổ biến rất giống nhau, gần như đều sao chép lại từ một kho tài liệu gốc ở đâu chưa rõ.

Nói chung là kể lại với khá nhiều chi tiết gần một đời người của bà Công Thị Nghĩa (sinh năm 1932): từ khi còn là một thiếu nữ lao mình vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bị tù tội, được thả ra, thành kí giả, rồi được bầu làm hoa hậu đầu tiên năm 1957 dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, đóng phim (Chúng Tôi Muốn Sống và Lục Vân Tiên), sang Pháp năm 1961, học thành tiến sĩ sử học 1978, cưới chồng Pháp là bác sĩ nha khoa Gaspard, viết sách, làm thơ, hoạt động trong Hội người Việt Nam tại Pháp (thuộc quyền cộng sản Hà Nội), sống ở vùng Paris cho đến bây giờ, đã từng về Việt Nam dạy học (Đại học Duy Tân năm 2000), v.v.

Riêng về giai thoại mối tình của Bùi Giáng (1926-1998) với Thu Trang,  xin trích một đoạn từ trang web https://arttimes.vn/san-khau-dien-anh/hoa-hau-diep-vien-thu-trang-cong-thi-nghia-c17a4607.html (4 juillet 2022):

"Có một chuyện tình đã thành huyền thoại, ấy là khi Bùi Giáng biết Thu Trang chuẩn bị cùng con trai đi Pháp. Ông đến nhà thăm bà trong một ngày Sài Gòn mưa buồn. Thu Trang nhớ lại hành động “kỳ cục” của ông hôm đó, bà viết: “Tôi hơi ngạc nhiên để ý anh nhìn xuống nền nhà đá hoa. Cả hai im lặng, tôi muốn nói một câu gì đó để cho có chuyện. Chưa kịp thì anh cúi xuống nhặt đôi dép màu xanh lá mạ mà tôi dùng đi trong nhà, lẳng lặng mở tờ báo gói đôi dép. Rồi anh đứng lên: “Tôi về!” Bùi Giáng thân hình nhỏ thó, với bộ đồ lã tọa, dị hình, nách cắp gói dép, bước đi liêu xiêu trong chiều Sài Gòn cô tịch, dường như ông một mình “làm cả cuộc phân ly”! (Một thời để nhớ, 2010)
Hình ảnh thi sĩ Bùi Giáng trong phút chia phôi ấy cứ hằn vào tim bà vương vấn mãi trên đường tha hương."







Tuesday, January 31, 2023

bài Tựa cho tập thơ Hoa Nắng

  

Tác giả bài Tựa: Quách Tấn (1910-1992)
Tác giả tập thơ Hoa Nắng: Thi Vũ (1935-2023)


photo 2018 dtk@hdc.com

Mùa thu năm Canh Tý 1960, đương buồn cảnh "lão khứ văn chương", tôi nhận được thư của một bạn thanh niên chưa quen biết, từ Paris gởi sang, lời nồng ý hậu.

Thư của Thi Vũ.

Thật chẳng khác tiếng chim hoàng ly, trong, ấm, đối với một hành nhân thui thủi trên con đường nắng nhạt, tư bề lau lách đìu hiu.

Lòng tôi thấy bớt cô quạnh.

Từ ấy thư từ qua lại, khi chuyện văn chương, khi niềm tâm sự. Tình trao ý đổi, chúng tôi trở thành đôi bạn vong niên. Nhưng kẻ cố quốc người tha hương, bấy lâu chỉ gặp nhau trong văn thơ, trong mộng tưởng.

Tuy vậy tôi vẫn nhìn thấy được con người của Thi Vũ, một con người phong lưu, tế nhị, vương mang sầu vạn cổ, hằng khao khát "bể cả của tình yêu". Sống cô đơn  giữa chốn đông người quen thuộc, Thi Vũ

"đi một mình tìm mãi giữa mông lung
"dáng dung nào suy tưởng mãi không thành".

Lòng mong mỏi

"có ai đến thêm hồn tôi chút sắc
"trút long lanh vào những mắt sao mờ"

Nhưng

"con tàu chạy trong hồn không thấy ngớt"


"tiếng cười reo lạnh tái bóng hư không"

Không tìm được những gì mong tìm nơi ngoại giới, Thi Vũ bèn trở về nhìn kiếm trong thăm thẳm của tâm tư.

Chắc chắn tôi không lầm, vì sắc thái tâm hồn của con người phong tao ấy đã in đậm vào lòng thơ những tập “Mùa Xuân Xa”, “Dáng Châu”, và “Hoa Nắng”, những tập thơ tuy còn nằm trong bản thảo, nhưng tôi đã may mắn được xem. Tôi xem với tấm lòng khách yêu thơ, rồi xem bằng đôi mắt nhà thẩm mỹ. Xem đi xem lại, tình riêng âu yếm với tình.

Nhưng trong ba tập thơ, tôi yêu nhất tập "Hoa Nắng".

Đó là một tập thơ tản văn thi (Poème en prose), giàu hình ảnh, giàu âm nhạc, chứa đựng bao kỷ niệm suy tư của con người đã từng thiền định về các kinh nghiệm sống, đã từng đối thoại với tâm hồn...

Chan chứa tinh thơ : nơi đây "nắng đẹp chảy đầy đôi mắt biếc” ; nơi kia “biển xanh xa vời vợi, mênh mông buồm gọi nhớ nhung về” ; nơi thì “nhớ tưởng không bằng lời, yêu thương đọng đôi giờ gần gũi” ; nơi lại “lòng xôn xao chan chứa, mừng vui đón kẻ lạ đến từ xa”. Cũng có nơi “hương không về qua khứu giác, lời không vang trong âm thanh”. “Tất cả lặng yên, lặng yên như sợ vỡ niềm trong lành thanh thoát” ; lại có nơi “đưa hồn tắm vào bể rung cảm của nhạc hót thô sơ mà đầm ấm, thô sơ mà trong trẻo, thô sơ mà có thể nâng cả người ra ngoài cuộc đời”.

Nói sao hết được tình thơ trong “Hoa Nắng” !

Tưởng chừng là lòng giếng Cô Tô, tôi “nghiêng mình nhìn xem lòng thẳm giếng”, đưa tay lên sửa lại “những vì sao của những vì sao trên trời, của trời sao đêm găm đầy mái tóc giếng", và lắng tai nghe "tiếng chân đêm gánh sao về lóng lánh, giọng hò ngày rực rỡ mở đời ra".

Tưởng chừng là hình dáng Bí Phi lướt sóng, lòng tôi cùng lòng tác giả "xôn xao trong mùi biển khơi", và "với biển khơi cầu mong sự biến dạng cho đến ngày cá thể hình thành đại dương".

Dạt dào vui sướng, tôi bèn đề nghị cùng tác giả cho "Hoa Nắng"  ra đời.

Trong mùa xuân qua, Thi Vũ sửa chữa lại Hoa Nắng và mong tôi viết cho lời tựa, “hầu mai đây lúc đủ thiện duyên xuất bản được, Hoa Nắng sẽ bớt đơn côi, thôi sợ lạnh lùng trên đường đời heo hút”.

Đã lòng hạ cố đến nhau, thì dù không bút trổ yên hà, cũng không dám phụ lòng tri kỷ.

Nhưng biết viết gì đây hỡi lòng ?

Âu là chép lại những niềm rung cảm trước tình bạn, trước tình thơ. Sơ đạm nhưng chân thành, thêm ngày đã nung tháng đã nấu. Ngọn đèn canh vắng, hỡi người nước thẳm non xa, rằng thiển rằng thâm, hãy tạm gọi đi là tựa.

Viết tại Nha Trang,
tiết lập thu năm Quý Mão 1963
QUÁCH TẤN 


nguồn: Hoa Nắng, thơ Thi Vũ, tái bản lần thứ ba, nxb Quê Mẹ, Paris, 2015