Thursday, May 28, 2020

Hỏi thăm những cá cùng chim (*)

Lời dẫn 
Cảm ơn bạn Phan Thị Trọng Tuyến, nhân đọc bài "Cá chết" https://bong-ngay-qua.blogspot.com/2016/07/ca-chet.html,  có nhã ý cho phép đăng lại một đoản văn của bạn (trích từ Mùa Xuân và những con dã tràng, An Tiêm xuất bản, Paris, 1991) — như một tiếng đồng vọng.                                

(*)
Hỏi thăm những cá cùng chim,
Chim bay xa bóng, cá chìm bặt tăm.
(Phong thi, Tản Đà) 


Ban đầu, tất cả những hũ, lọ, keo thuỷ tinh trong nhà bị trưng ­dụng và được xếp dọc theo hai bệ cửa sổ. Trong mỗi cái là một ­loại cá. Cá lia thia, cá phướn đen đỏ trắng cam, cá xiêm xanh ­tiá vàng, bạc, cá đá vằn vện oai phong. Thỉnh thoảng bọn con nít ­len lén nhấc tờ giấy chận, những con cá nhìn thấy nhau, đứa phùng­ mang trợn má húc đầu vào thành lọ, đứa sừng sộ nghinh lại, đứa ­chạy loăng quăng cuống quýt vòng quanh, cả bọn tôi reo hò ầm ĩ cổ ­võ. Cậu tôi chạy ù tới ký đầu bọn tôi cốc cốc vừa la oai oái vừa ­tái lập hòa bình cho bọn cá.

image Internet

Rồi Đạt, thằng em tôi cũng bắt chước, đi bắt cá chốt, cá lìm kìm dưới­ sông lên. Lại hũ lọ lủ khủ. Dần dần, chỗ nào cũng có nhà cho cá. Và ngày nào cũng có cá chết. 
Đạt thử hết nước sông cầu­ Sắt, tới nước "máy" Đồng Nai, hết dùng thức ăn cá lia thia tới thức ăn ­cá Tàu, chỉ hai hôm ba bữa là lũ cá sông xấu xí lại nằm chổng ngược trên mặt nước, ­phơi bụng trắng hếu. Thằng nhỏ ỷ ôi năn nỉ, cậu tôi thí cho vài con ­cá "thứ thiệt", chẳng biết vì cậu sợ nó bò xuống sông hoài, có ngày chết đuối hay vì cậu mới tậu thêm cá mới...

Cậu tôi đổi chác, thương lượng sao đó với những bạn hàng cá kiểng ở chợ Hàm ­Nghi rồi một hôm vác về hai hồ cá thủy tinh đúng điệu. Có bông đá màu đỏ,­ có cả rong xanh, cây cối giả bằng nhựa. Thằng em tôi sung sướng­ thừa hưởng mớ nhà nghèo linh tinh thủa ban đầu của cậu. 

Thỉnh thoảng cậu và đám bạn hàng xóm thách đấu nhau, nhà tôi ồn ­ào như cái chợ. Tôi chen không nổi với đám con trai nên khinh bỉ­ lùi ra xa, thỉnh thoảng lé mắt, nghếch mỏ dòm dòm, nhờm tởm tưởng ­tượng đến lúc chúng ngắt đầu con cá dựng lên trên cây tăm, xoay ­xoay cây tăm trước mũi những con cá để máu nóng (của cá) hung hãn bốc lên. ­Cậu cười ngất:
— Con gái ngu quá, đá cá chớ có phải đá dế đâu!

Hừm, hừm, đá gì cũng vậy, mùa dế thì thây dế không đầu, giò cẳng ­vương vãi trên sân xi măng, muà đá cá thì xác cá trầy vi tróc vẩy­ nằm trong thùng rác.

Nhưng cậu là kẻ đam mê. Và đam mê cứ đến ào ạt, hết đợt này đến ­đợt khác, cái này đè lên cái kia, cái sau lấy chỗ cái trước. Chỉ dế, cá thôi thì đâu đủ chuyện để nói.

Từ­ lúc (cậu và cả tôi nữa) mới lớn lên, tôi đã thấy cậu mê chim chóc. Mỗi lần về quê, cậu rình rập, leo cây bắt tổ chim, gọt ­đẽo giàn ná bắn chim. Rồi hết hè về nơi thành thị, cậu tái tạo không gian và không khí nhà quê. Cậu và con mèo rất ­giống nhau: con mèo ngồi thu lu trên mái tôn, hai con mắt lim dim ­đạo đức giả, đôi chim sẻ vừa xà xuống, chưa kịp hót một tiếng ­nhỏ, mèo đã xồ ra, trong chớp mắt cắn cổ một con chim chạy đi, ­chú chim sống sót đảo qua đảo lại kêu lên những tiếng cuống quít,­ não nùng.

Còn cậu tôi, ngồi cạnh má tôi phết vẹc ni mấy cái­ chân ghế, nhưng hai con mắt và hai tai cậu nằm ngoài hàng cây ven đường trước cửa. Nhận ra tín hiệu: một tiếng hót, một tiếng cánh vỗ, cậu vụt buông cọ, chạy nhào lên gác, rút ná, tra đạn, hướng­ lên cây sao rậm rạp, nhắm một con mắt, thẳng tay kéo giàn rồi vụt­ buông những ngón tay. Lá cây rơi lả tả, cậu lại chạy a đến gốc cây, bới ­bới đám lá... rồi lỏn lẻn đi vào nhà, tay không. Đôi khi, cũng có một nạn điểu...

Dần dần cậu có tổ chức hơn, chững chạc hơn, bớt dã man. Cậu sắm ­lồng, cậu xuống phố Hàm Nghi, viếng chợ cá, tới chợ chim. Những ­người bán buôn năm cũ, có nhớ cậu tôi không, một chú bé nhỏ choắt, nói năng nhỏ nhẹ, đôi mắt to đen như nhung, ban đầu đi một ­chiếc xe đạp lau chùi bóng loáng, sau đó... xe mô lết rồi solex rồi honda. Đã nói cậu mê đủ thứ, cùng một lúc hay lần lượt trước sau, nhưng chắc chắn chưa bao giờ có dấu chấm, thậm chí dấu phết cũng hiếm hoi, giữa hai mối đam mê.

Để có chỗ cho một ­cái lồng chim thật to, cậu phải thanh toán bớt những chậu cá  ­ngoài sân, lại mua bán, đổi chác nhộn cả lên. Má tôi hì hục đóng ­một cái nhà chim, mành lưới, cửa to, cửa nhỏ hẳn hoi. Tôi gọi là nhà vì tôi đã có thể (lén) chui vào được, nhưng cậu chẳng cho đứa nào được phép bước vào trong đó. Cậu tự làm lấy tất cả, dựng cành ­cây khô, lắp những chiếc nhà nhỏ xíu, những cây xích đu, làm ổ­ chim, gắn máng thức ăn, bình nước. Chim gì cậu cũng mua, mấy họ­ nhà chim chen nhau ở trong cái lồng son khổng lồ. Nào cưởng, sáo, ­két xanh, hoàng yến, chìa vôi, chim áo già... Chim líu lo ríu rít ­có khi cắn nhau chí choé, thức ăn, lông chim, kít chim văng tung toé. Cậu­ vẫn vui vẻ lau rửa, thay nước, xắt rau, thay hột cải, mua cả cào ­cào châu chấu, trùng đất cho những chú chim khó tính.

Nhưng cậu không có tay nuôi, hay vì đời cá chậu chim lồng chẳng ­thích hợp với ai, nhất là cho chim và cá, chúng thay phiên nhau­ chết. Bọn tôi, đi học về, vất cặp xuống là chúi mũi vào những ­ngục tù, quan sát rồi hơ hãi:
— Cậu Út ơi có một con chim chết!
— Cậu Út ơi có một con cá cứ ngáp ngáp!

Cậu lật đật vớt cá ra, rờ rẫm, thay nước. Cậu bồng chim, vớt cá ra, vuốt ­ve, ủ ủ trong hai bàn tay, có khi cậu vạch mỏ "người" bệnh, nhỏ vào vài­ giọt nước hay thuốc. Má tôi cũng bỏ việc, chẩn mạch, sai cậu lấy thuốc­ ra nghiền, khi thì terramycine, khi thì auréomycine có khi cả ­thuốc kiết lỵ, thuốc ghẻ, thuốc sốt rét... Má tôi đưa mấy đồng bạc lẻ:
— Con chạy ra phạc ma xi Ngọc Lan mua hai viên ti phô my xin, một­ túp ga ni đăng...
Bây giờ đùa má tôi thì má tôi giận:
— Tao nuôi tụi bây bảy tám đứa lành lặn không đui què sứt mẻ!

Nhưng cá và chim... dở hơn tụi tôi nên thi nhau về chầu... Diêm ­vương, Hà Bá. Ngoài tai trời, ách nước, chim cá còn chịu những­ khổ nạn khác nữa, ấy là chưa kể trẻ con hàng xóm nghịch ngợm cho­ ăn những giấy vụn, cây trái, thức ăn bậy bạ. Và chưa nhắc đến một hung thần ác mó ­là con khỉ Bạch Viên, má tôi mua của bác Năm phụ lái xe đò đường Sài ­Gòn - Đà Lạt.

Con khỉ khôn như người và phá phách hơn tụi tôi. Khỉ có một cái bệ gỗ phía trên cửa ra vào, ­chân khỉ bị xích vào một sợi dây dài độ hai, ba mét, khỉ thong thả­ chuyển vận từ ngai vàng qua đầu tủ, tụt xuống tận cửa sổ, thò tay ra ngoài xin quà bọn trẻ hàng xóm, v.v. Hễ khỉ phá quá, má tôi rầy, cậu thu ngắn dây lại; đến khi khỉ ngoan, cậu nới dây ra. Lâu lâu, thừa lúc mọi người lơ là cảnh giác, khỉ ta từ trên đầu tủ tuột xuống một cái ào, nhào lại chậu, thò tay vớt cá hất xuống đất (khỉ cột ghét cá ăn?). Và rột một cái khỉ ta đà chễm chệ trên đầu tủ, nhe hàm răng nhọn ra cười. Cậu tôi hét lên, chạy tới lượm cá bỏ vào chậu, rồi kéo sợi xích, lôi con khỉ xuống, đánh vào tay nó. Khỉ vẫn nhe răng nhưng lần này khọt khẹt kêu oan. Cá bị đau tim hấp hối. Đôi khi khỉ ta mở cửa chuồng chim, không phải để phóng thích chim mà cốt để mèo chui vào! Con mèo mướp già thích chim, mê cá như cậu tôi. Nó vớt cá tài tình không kém khỉ và hễ ăn thì chẳng như con Cám, không chừa vây, vẩy, xương da chi cả, nhưng chỉ cần nhìn: trên chậu vắng cá, dưới cửa sổ mèo ta ngồi lim dim liếm mép rồi vươn vai thẳng cánh nằm kềnh ra là biết ngay chuyện gì đã xảy ra.

Về sau, khi cậu mê xe đạp: từ xe thường rồi qua loại xe đua, rồi sau xe đạp là xe gắn máy, khoảng thời gian to lớn cậu dùng xe để đi chơi và để o bế xe như lau chùi căm xe, niền xe khiến cậu phải bỏ bê chim cá. Chúng thi nhau chết. Cậu chắc hết vốn hay chỉ vì có xế quên cá, có ngựa (sắt) quên chim, tôi không thấy cậu đi bổ sung quân số. Những chậu cá bớt dần khách trọ, trong chuồng chim cũng chỉ còn vài con bồ câu và con cưởng chỉ biết nói bốn tiếng "Má ơi! Ai đó?". Cậu đã dốc lòng nuôi dạy, chăm sóc, chuyện vãn, kiên nhẫn lập đi lập lại từng câu ngắn. Không biết ăn bao nhiêu ớt, lột lưỡi mấy phen mà rốt cục cưởng chỉ biết thêm một biến khúc nhỏ tẹo "Đạt ơi! Ai đó?".
Ngày nào cũng có con nít, người lớn đi ngang dạy cho mấy câu chào và chửi tục, song lắm thầy thối ma, hay vì óc cưởng đã bão hoà, nên trước sau bộ dĩa cưởng chỉ chứa được bấy nhiêu lời.

Cậu chỉ còn phải chăm sóc con khỉ thôi. Chẳng hiểu vì giận cậu tôi quá lơ là săn sóc hay buồn vì đã mất một mớ bạn, khỉ trở nên lộng hành, ưa phá khách đến viếng nhà sau. Một bữa, bà Chín ròm, hàng xóm với nhà tôi, ẵm con qua mắng vốn chuyện gì đó, bà vừa qua khỏi ngưỡng cửa, khỉ ném vỏ chuối ngay vào giữa mặt bà, bà chưa kip phản ứng thì khỉ tụt xuống thò tay kéo tóc đứa con. Cả hai mẹ con, kẻ la làng chói lói, người khóc thét...

Thế là cậu tôi ẵm khỉ đi Hàm Nghi. Nhà bỗng trở nên thanh bình, yên tĩnh.
Nhưng thứ hoà bình cưỡng đặt nào cũng mong manh, ngắn hạn. Chỉ vài hôm sau, cậu bê về một con... sóc. Ô, sóc dễ thương quá, cái đuôi xù ra và đôi lúc dựng ngược lên, mềm mại, hai con mắt nhỏ, mấy ngón chân, ngón tay tí hon. Khi ăn, nó cầm bằng cả hai tay như một đứa trẻ. Thế là như thường lệ, sau khi cả bọn tôi năn nỉ, khóc lóc, nằm vạ, hứa hẹn ngoan ngoãn, vâng lời, v.v. cậu cho mỗi đứa chúng tôi nựng nịu hay vuốt ve sóc, "một cái thôi!".

Cậu cột chân sóc vào sợi dây nhợ nhỏ, và đính sợi dây vào nút áo. Sóc thoăn thoắt leo ra leo vào túi áo cậu, có khi leo cả lên vai cậu, ngơ ngác ngắm nhìn xung quanh trong tiếng trầm trồ của thiên hạ. Sóc và người không bao giờ rời nhau.

Cho tới một ngày kia, cậu đánh thức cả nhà bằng một tiếng kêu kinh hoàng. Ô hô, cậu ngủ mê, lăn lộn thế nào mà đè nghiến con sóc nhỏ. Lũ nhỏ chúng tôi buồn bã bỏ sóc vào hộp giấy, làm đám táng, chôn sóc dưới gốc dừa, bên cạnh vô số những nạn vật khác của cậu. Đã bảo cậu không có tay nuôi mà! Và chuyện cậu nuôi thú là chuyện một nghìn lẻ một đêm, là một never ending story. Càng lúc cậu càng leo thang trong sự lựa chọn đam mê mới. Và đam mê nào cũng khiến lũ chúng tôi xôn xao, thán phục.

Cậu tha về nhà một con trăn con bé tí, đường kính thân trăn độ bằng ngón tay cái của ba tôi. Trong khi chờ trăn lớn để cho vào chuồng chim to (bầu bạn cùng cưởng!), cậu cho trăn ở trong một lồng chim nhỏ. Trăn cuộn tròn nằm ngủ suốt ngày, chẳng có chi đáng nói. Mỗi tháng một lần cậu mua gà con về cho trăn ăn, tôi chưa bao giờ dám đứng xem, con nít người lớn bu đen. Khi thiên hạ dang tay ra về, tôi mon men đến gần thấy trăn ta cuộn tròn nằm ngủ, một khoảng bụng phình to thật gớm ghiếc. Có khi cậu chỉ cho trăn ăn trứng gà. Trăn lớn lên rất nhanh, lâu lâu lột da thấy mà ghê. Trong đám thú vật của cậu, từ những con "củ" cậu nuôi trong cam thảo, vỏ quýt — cậu đem đến tiệm thuốc Tàu đổi lấy quế hay táo khô — đến vịt con nuôi trong chậu, từ chim yến đến dế cơm, từ cá ba sắc đến rùa Kim Quy (?) gốc gác chùa Ngọc Hoàng, con nào tôi cũng được cậu cho phép "rờ một cái" rứa mà tới con trăn tôi chịu thua một phép. Cậu dụ khị:
— Rờ thử coi, ngộ lắm, thân nó mềm, da nó cứng, máu nó lạnh...

Cậu tôi như vậy đó, lúc nào cũng ngăn cấm lũ cháu xáp lại gần bảo vật riêng tư, nhưng đứa nào lơ là thì cậu ráng thuyết phục để nó chia sẻ — từ xa xa, dĩ nhiên, tất cả các nguyên nhân khiến cậu bận bịu một cách sung sướng suốt cả đời.
Tới một bữa, cả nhà nhốn nháo: con trăn xổ chuồng trốn mất! Tôi đứng ngẩn ngơ trước lồng chim trống, tim đập đùng đùng trước hai song kẽm bị kéo rời nhau như khi Hercules bẻ cong chấn song vượt ngục. Cả đám đổ xô đi tìm... vô vọng. Anh Phước, bạn cậu, hăm he lũ trẻ:
— Tụi bây ráng kiếm cho kĩ. Nó trốn dưới mấy cái nhà sàn ven sông bắt cá hoặc gà vịt ăn đỡ, chừng lớn hơn nó lên bờ bắt... chó hay con nít ăn!

Trời ơi, mấy tuần liền, tôi không dám vô xóm, không dám qua nhà mấy con nhỏ bạn ở ven sông! Và tin rằng mười năm sau, nếu có thủy quái hoành hành ở sông cầu Bông. 
Đích thị là con trăn trốn tù thuở nọ!

Khi tôi đi học xa, em tôi viết thư cho hay cậu đang nuôi một con cá... sấu! Cá sấu được nuôi trong... thau nước, đặt trên... sân thượng. Mỗi ngày má tôi đi chợ mua thức ăn cho cả nhà, vẫn phải nhớ thêm phần thịt cá cho sấu. Cho đến một hôm, chuyện phải đến xảy ra: sấu đội nắp thau, liều mình pờ lông rông xuống đất và bò thẳng ra sông tìm đến bến bờ tự do, khoảng khoát. Mười lăm năm sau xóm cầu Bông ắt lại có thêm một con giao long tác quái!

Never ending story? Không, khi đất nước hoà bình, thống nhất nam bắc một nhà và mỗi nhà túa ra bốn phương tám hướng, tôi không còn nghe cậu tôi nuôi con gì nữa. Hai đứa con, cậu mợ sinh ra từ thời "ngụy", cậu nuôi chỉ nổi một đứa, còn một đứa đi ở với dì tôi.

11-1991
Phan Thị Trọng Tuyến
Trong Muà xuân và những con dã tràng
Nxb An Tiêm, Paris, 1991











Thursday, May 21, 2020

ngày vui qua mau


"Ngày Vui Qua Mau", hình như là nhan đề một cuốn tiểu thuyết của Tuấn Huy. Nói về một chuyện tình lãng mạn gì đó ở xứ Đà Lạt sương mù... Tác giả này, ngày nay ít ai biết tới. Nhưng tôi nhớ mãi cái nhan đề.


photo @dtk 2020

Hồi đó Phạm Công Thiện là bạn của Tuấn Huy. Trong cuốn tiểu thuyết "Hương Cỏ May", tác giả Tuấn Huy có dẫn bài thơ dưới đây của Phạm Công Thiện. Tôi thấy bài thơ này lần thứ hai trong tập "Ngày Sinh Của Rắn" (*01):




Mười năm qua gió thổi đồi tây

Tôi long đong theo bóng chim gầy

Một sớm em về ru giấc ngủ

Bông trời bay trắng cả rừng cây

Gió thổi đồi tây hay đồi đông

Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng

Trong mơ em vẫn còn bên cửa

Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

Gió thổi đồi thu qua đồi thông

Mưa hạ ly hương nước ngược dòng

Tôi đau trong tiếng gà xơ xác

Một sớm bông hồng nở cửa đông.

(Ngày Sinh Của Rắn, VIII)



Năm 1968, đúng ngày xảy ra biến cố Mậu Thân, tôi theo anh tôi (lính về phép 24 giờ) (*02) xem phim Hồng Kông "Đuổi bóng hạnh phúc", — hay cái tên gì khác, tôi bây giờ rất ngờ cho trí nhớ của mình — ở rạp Đại Nam, đại lộ Trần Hưng Đạo.

đại lộ Trần Hưng Đạo (1967, photo John Beck)
Ấy là lần đầu tiên tôi trông thấy một bụi cây ngô đồng đong đưa trước gió. Truyện phim kể rằng vào mùa lá cây ngô đồng rụng thì nhân vật nữ vai chính sẽ qua đời vì bệnh trầm kha. Ôi, còn rất nhiều tình tiết éo le. Ra về, qua chợ Bến Thành, khí hậu thành phố buổi chiều 30 Tết sao hoang vắng lạ thường. Đêm hôm đó, trở về nhà khu quận Nhất, nghe tiếng súng nổ rất gần... 

Cuối năm, tôi lên đường, ra đi biền biệt chưa về.



Ghi chú

(*01) Tập thơ Ngày Sinh Của Rắn của Phạm Công Thiện do Thi Vũ trình bày và Nhà xuất bản Hoa Nắng in lần thứ nhất ở Paris, 1966.

http://www.gio-o.com/ThiVu/ThiVuPhamCongThienVeMotBaiTho.htm















(*02)  24 giờ phép, nhạc Trúc Phương


1. Từ xa tôi về phép hai mươi bốn giờ
Tìm người thương trong người thương
Chân nghe quen từng viên sỏi đường nhà
Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ
Và người yêu đứng chờ ngoài đầu ngõ bao giờ.

2. Cửa tâm tư là mắt nên khi đối mặt
Chuyện buồn dương gian lẩn mất
Ðưa ta đi về nguyên thủy loài người
Lời yêu khi muốn ngỏ
Vụng về ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay.

ĐK: Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời
Ðêm lạc loài giấc ngủ mồ côi.

3. Người đi chưa đợi sáng
Ðưa nhau cuối đường sợ làm đêm vui rủ xuống
Thương quê hương và bé nhỏ tình này
Ngậm trong đôi mắt đỏ
Vì mình mười sáu giờ bỏ trời đất bơ vơ.





Monday, March 9, 2020

vườn Luxembourg





Lễ Giáng Sinh tìm quà tặng, thấy cuốn sách có bức tranh vẽ hàng ghế trống trong vườn Luxembourg. 
Vườn Luxembourg mùa nào cũng đẹp.
Mùa thu lá vàng trong nắng.
Và mùa đông, với những hàng ghế trống ngổn ngang. 


traduction (pour Ludivine et Léo) :


photo @luongnguyen (Texas, USA)










Noël, en cherchant des cadeaux dans une grande librairie, j'ai trouvé un livre avec un dessin 
Une rangée de chaises vides en zigzag dans la grande allée du Jardin de Luxembourg
Le Jardin de Luxembourg est joli en toutes saisons
L' automne, avec ses feuilles mortes sous le soleil
Et l'hiver, dans la grande allée, des rangées de chaises vides en zigzag 





Sunday, March 1, 2020

gió lên rồi



Câu nói vụt dậy trong lòng khi vừa xem xong cuốn phim hoạt họa của Hayao Miyazaki.

Một chuyện tình trai tài gái sắc bên nước Nhật, giữa thiên tai động đất và chiến tranh khốc liệt những năm 1920.

Giấc mơ một đời của kĩ sư Jirô Horikoshi là sáng tạo một chiếc máy bay phi thường cho hàng không Nhật thời bấy giờ. Và sống hạnh phúc êm đềm bên nàng Nahoko Satomi khả ái.


Chính ngày chiếc phi cơ của Jirô đem bay thử lần đầu, thành công rực rỡ, thì Nahoko quyết định bỏ căn nhà nơi hai người chung sống, và trở về dưỡng viện  dành cho những người mắc bệnh lao phổi (sanatorium). 

Nàng muốn để lại cho người yêu những hình ảnh đẹp của mình trước khi từ giã cõi đời.

Ngày đầu tiên hai người gặp gỡ, trên một chuyến xe lửa, Naboko vụt đọc câu thơ của Paul Valéry (Le Cimetière marin) khi Jirô đến nhận lại chiếc mũ của chàng bị gió tung bay: " Le vent se lève... ", và Jirô tiếp theo ngay: " ... il faut tenter de vivre ! "

Gió lên rồi. Không, ta phải sống!





Phụ lục

(1)

"Gió lên, gió nữa lên!..." là câu nói trong bài Nhặt lá bàng, trích từ lời tựa trong cuốn tiểu thuyết Đôi bạn của Nhất Linh. Bài này tôi học lần đầu năm đệ Thất (lớp Bảy bây giờ) mà còn nhớ mãi. Bài viết nói về hai đứa con nhà nghèo ở Hà Nội, mùa đông giá rét mà ban đêm phải đi nhặt từng chiếc lá bàng đem về bán cho người ta đốt lò sưởi:

"Gió lên... lạy giời gió nữa lên. (...) Rồi chúng lại về ngồi chỗ cũ, mỗi đứa một gốc bàng, cho "khuất gió", khuất những cơn gió làm cho chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi lên."





(2)

"Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. (...)
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp. (...)
Chồng hỏi vợ:
— Mình liệu bơi được đến bờ không?
Vợ quả quyết:
— Được!
—Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng!
— Được! Mặc em!
Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
— Thế nào?
— Được! Mặc em!
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
—Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi:
— Có bơi được nữa không?
— Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
— Em buông ra cho mình vào nhé?
Chồng cười:
— Không! Cùng chết cả.
Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi:
— Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không?
— Không!... Sao?
— Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc run run khẽ nói:
— Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ."
(Trích Anh phải sống, Khái Hưng)












Friday, February 21, 2020

những con vịt ở Sapa


Hôm qua loay hoay xem lại cái PC Windows cũ, tình cờ gặp một tấm hình, chụp ở Sapa, chín năm về trước (2010).

Chỉ là mấy con vịt, nằm hoặc đứng, ngổn ngang bên cạnh một vũng nước đất đỏ.

Vậy mà trong lòng bỗng nhói lên một niềm áo não lạ thường.


photo @dtk 2010














Y hệt như nỗi lòng ngày hôm đó, lúc đi ngang qua vũng nước, chụp tấm hình này.

Hôm đó, vừa bước xuống xe car, đoàn du khách đến thăm một ngôi làng thuộc vùng núi Sapa (Bắc Việt), đã bị gần hai chục người Yao bao vây tức khắc. Toàn là phụ nữ, phần lớn tuổi không quá 30 — đầu chít khăn, thân mặc áo đen, thêu chỉ màu sặc sỡ.

Riêng nhà tôi đã có hai ba người Yao theo bén gót, suốt mấy giờ đi bộ thăm làng. Ai bảo người Yao chậm tiến? Trên tay mỗi người đều có một máy điện thoại di động. Họ vừa đi vừa nói chuyện huyên thiên. Đại khái cứ nài nỉ không ngừng, xin nhà tôi nhận lời mua mấy món hàng "lưu niệm" địa phương: túi thêu, khăn choàng... Mấy món hàng này, thực ra ở đâu cũng thấy. Và chắc chắn sản xuất từ một xưởng máy nào đó bên Trung Quốc mà thôi.

Lối vào làng là một con đường đất đỏ, rộng chừng mười thước, dài khoảng gần cây số, dốc thoai thoải, vài khúc quanh không gắt lắm. Đoạn đầu, ven đường là những cánh đồng, mái tranh thưa thớt, sợi khói nhạt nhòa, xa xa chỉ thấy một trẻ mục đồng dẫn trâu chậm rãi.

Vào đến trong làng, rải rác vài cửa tiệm mái tôn, bày bán dăm thứ rau cỏ, kẹo bánh..., và hai ba người ngồi ngáp. Hình như tiệm chỉ rộn ràng lên khi có khách du lịch vào thăm. Không biết ai bảo, nhà tôi cũng bắt chước mua bánh kẹo, phân phát cho mấy đứa trẻ con, tranh nhau ồn ào mười phút.

Dọc đường làng, đây đó một mái tranh hoặc lợp tôn đen đủi, trước cửa, một đứa bé, cầm túi nylon, nhìn ngơ ngác. Chúng tôi ghé thăm một căn nhà, mà người hướng dẫn bảo là truyền thống ở đây. Trong nhà tối om, nhìn kĩ phòng bếp, lổng chổng vài cái bếp đất, mấy cái nồi ngổn ngang, trên tường lủng lẳng mấy cột giấy đề chữ Hán. Ra vườn sau, có một giàn bầu, lá vàng. 


Trên đường, trước sân một căn nhà, có hàng dây thép phơi một dải khăn dài, màu xanh thẫm nước biển. Có lẽ ở đây, người ta dệt vải nhuộm chàm chăng?

Đi một quãng nữa, chợt thấy một vũng nước và mấy con vịt đã chụp trong hình ở trên. Đất đỏ quánh, không cỏ xanh, bên cạnh là một tấm bạt nhựa xanh. 

Không hiểu sao, chụp tấm hình xong, tôi bỗng nhiên buồn bã muốn nẫu cả người.

Chợt liên tưởng tới tấm bảng sắt rỉ sét cắm bên vệ đường lúc vào làng. Khẩu hiệu: "Xóa đói, giảm nghèo". Trông cái vẻ rỉ sét, mặt sắt lồi lõm, sơn tróc màu quá nửa, thì cái bảng này đã có mặt ít nhất từ 30 năm trước.


photo @dtk 2010

Hôm nay, nhìn kĩ lại tấm hình mấy con vịt: những con mắt hạt dưa, đen xạm, không động đậy.

Trông con vịt nào cũng buồn như nhau!















Wednesday, February 19, 2020

buối sáng trong vườn cây


1. Bụi chuối

photo @dtk 2020
Mỗi lần đi dạo trong Jardin des Plantes, tôi đều ghé lại khu đất rộng —đối diện với cái Serre tropicale (1), thăm bụi chuối quanh năm trồng ở đây.

Bây giờ là mùa đông, mấy gốc đứng trơ vơ, hai tàu lá úa, rách rưới, phất phơ trước gió.

Ở đó nhìn một hồi lâu. Đầu rỗng tuếch, hay triền miên ý tưởng? Từ bao giờ, tôi cứ nhớ tới những tàu lá chuối xanh mơn mởn, xạc xào trong gió đồng quê?


Phúc Khê nguyên bản, 1868
Ba tiêu

Từ bén hơi xuân tốt lại thêm

Ðầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem

(Nguyễn Trãi)



2. Giàn bầu


photo @dtk 2020, Jardin des Plantes, Paris
Cách đây 20 năm, lần đầu tiên tôi trồng được một cây bầu ở xứ Pháp lạnh lẽo này.

Mùa hè năm đó, khi cây bầu vừa ra nụ, rồi mọc dây leo cuốn vô giàn tre, ngày nào tôi cũng ra xem. Nhà tôi bảo không được chỉ tay về phía nụ bầu, nếu không tụi nó thúi hết cho coi.

May quá, tôi còn giữ được một trái duy nhất, bụng to chừng 15 cm bề ngang. Tôi o bế nó gần hai tuần lễ, sau cùng quyết định gọt vỏ nấu canh với tôm khô. Như ngày xưa, còn nhỏ — mẹ tôi đã nấu cho ăn. § Cập nhật 2023/02/24: Trái bầu này, tôi thương nó lắm, trước khi ăn, tôi chụp được một tấm hình, đem gửi lên trang "Bách Thảo Trong Thi Ca
http://viet.gutenberg.free.fr/huediepchi/vPlants/benincasaHispida.html
— vừa  lên coi lại, vẫn còn xanh mơn mởn.

photo @dtk 2000

Mấy năm sau này, trong Vườn Bách Thảo Paris, người ta trồng được nhiều cây cỏ Việt Nam: nào tía tô, nào sả, và cả hoa sen...

Đi loanh quanh một hồi dưới giàn bầu cao — tưởng chừng lạc tới núi tiên, ngoài cửa bể Thần Phù.

"Nhưng Từ Thức, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay màu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
— Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu."

Lần đâu đọc tới đoạn văn trên (trong Truyền Kỳ Mạn Lục), tôi lấy làm ngạc nhiên về tâm tư của chàng Từ Thức. 

Ấy thế mà, hơn nửa đời người biền biệt, một hôm tôi cũng dắt díu về quê.

Hỡi ơi, lần nào cũng vậy, "vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thẩy đều không như trước nữa". Nhất là con người ta, không thể nào tưởng tượng được, mỗi lần càng thêm xa lạ, như không còn cùng là một loài chung một hành tinh. 

Tội nghiệp cho họ. Nếu tôi phải sống như họ trong thời kì ấy (từ 1975 cho tới bây giờ), thì cũng thế thôi. Nói theo Tô Thùy Yên, "Ta hóa thân thành vượn cổ sơ", cũng không khỏi oan ức cho loài khỉ rừng xanh.

Khi Từ Thức về tới làng cũ, mới hay một năm sống ở động tiên với Giáng Hương bằng 80 năm trần thế.

Hôm nay, đứng nhìn trái bầu già loang lổ trời xanh, tôi chỉ biết đọc lại hai câu thơ:

30 THÁNG 4
Xứ khổ thêm chi mùa thảm khốc
Hỡi ơi trời đã bỏ rơi dân

(Tô Thùy Yên)








Chú thích

(1) tức là ngôi nhà kính lớn chuyên trồng cây cỏ vùng nhiệt đới, như hoa lan (orchidées) chẳng hạn.





Phụ lục


GIÀN BẦU PARIS

:::Ỷ Lan Penelope Faulkner:::

Khu vườn cạnh xưởng in Quê Mẹ có giàn bầu nổi tiếng lắm. Người Pháp qua đường, các bà hàng xóm đi ngang, tay kẹp ổ bánh mì hoặc kéo xe đi chợ, bận rộn, gấp gáp cách mấy cũng phải dừng chân đứng lại. Họ thường ngước đầu nhìn liếc, vừa kinh ngạc, vừa chiêm ngưỡng.

Ngày theo ngày, lá bầu xanh biếc chạy vùn vụt trên khung giàn bằng tre, vượt tràn qua bức tường cũ kỹ, nứt nẻ, của nhà in. Bất ngờ hết sức !!

Nhà in Quê Mẹ ở nơi vùng ngoại ô Bắc Paris nghèo nàn. Đây là khu công xưởng, kỹ nghệ. Ống khói nhà máy mọc lên thay cây cỏ. Nhưng ngay giữa vùng bụi bặm, hẩm hiu này, một giàn bầu Việt Nam được dựng lên ngạo nghễ. Hoa bầu trắng năm cánh, thơm nhè nhẹ, gọi bướm tứ phương về, lá xanh to bản chạy đua cùng mặt trời…

Anh em trong tòa soạn nhớ nước nhớ nhà quá dựng lên giàn bầu với những khúc tre còn sót lại sau kỳ tổ chức Hội Chợ Tết ở rừng Vincennes, Paris. Các người dựng giàn đều là dân trí “thức” nên giàn bầu có vẻ buồn “ngủ” hơi nghiêng ngả, nhiều khi lung lay theo gió chiều. Nhưng chính sự yếu ớt này làm tăng duyên dáng, khiến ai cũng thương giàn bầu, mong manh như đời người, như một kiếp tha hương…

Mùa hè nóng nực, Ỷ Lan thích ngồi mơ mộng bên giàn bầu. Anh em trong tòa soạn cũng hay kê bàn cạnh đấy, ngồi viết bài cho mát. Trưa nay, Ỷ Lan bày đầy sách vở, giả bộ làm việc. Nhưng đầu óc đuổi theo tiếng máy chữ của anh Thi Vũ, lóc cóc như vó ngựa. Một vài khi, anh Thi Vũ viết bài trên máy đánh chữ. Anh nói rằng tiếng lóc cóc, và sự đề kháng của nốt máy nhấn, kìm hãm bớt dòng suy tưởng quá nhanh, quá cuồn cuộn như vũ bão trong đầu. Viết tay chảy quá, khó kìm.

Nhìn giàn bầu, nhớ câu ca dao :

Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Ỷ Lan nhớ tới những năm vừa qua sống “chung một giàn” với anh chị em Việt Nam, và cười thầm nhớ lại những ngày đầu tiên khi mới qua Pháp.

Thuở đó còn chiến tranh, Ỷ Lan chỉ tính tình nguyện bỏ một năm sang Pháp giúp “Hội Phật tử Việt kiều Hải ngoại” trong việc phổ biến tin tức và văn hóa Việt Nam cho thế giới thông cảm. Làm sao ngờ được, ngày ấy đã hoàn toàn thay đổi đời mình ? Và mình sẽ bị, hay được Việt Nam hóa, mình sẽ tìm ra một “Quê Mẹ” xa hẳn nơi chôn nhau cắt rốn ! !

Đến sống trong một không khí hoàn toàn xa lạ, Ỷ Lan vừa rán bập bẹ học tiếng Việt, vừa cố tìm hiểu và bắt chước sống theo tinh thần Đông phương.

Chướng ngại đầu tiên là cách ăn chén đũa ! Làm sao gắp cho được và bỏ vào miệng những cọng rau luộc, khuôn đậu rán, miếng cá hay miếng thịt nằm ngoan ngoãn trên dĩa trước mặt bàn ?? Ỷ Lan dùng đủ cách, đủ kế, nhưng bữa nào cũng thua cuộc Đâm thẳng tới, thì “chúng” nhảy đi chỗ khác như ếch nhái. Đâm lén, thì “chúng” vượt khỏi dĩa, bay thẳng vào chén người trước mặt !! Chó ngáp phải ruồi mà gắp được, đưa gần tới miệng, thì…”chúng” nhào xuống lại trong chén mình, làm nước canh bắn lên tung toé ! ! Vừa dơ áo, vừa làm bộ mặt quê mùa của mình đỏ như gấc!!

Khổ quá. Mấy ngày đầu đói meo, vẫn cắn răng không dám than. Do tự ái người Hồng Mao, nhất định không chịu thua, dù các bạn tội nghiệp đưa dao nỉa ra cứu. Vì vậy, sáng sáng Ỷ Lan thường uống cà phê sữa, ăn bánh mì thật no, chuẩn bị cho trận “đánh đũa” sắp tới !!

Ôi, mấy hột cơm làm mình ốm o, đau khổ ! Chúng xếp hàng cả ngày trong lòng chén xa xăm của mình, mà chẳng chịu làm ơn co giò nhảy vào miệng !! Thiệt bất công quá đi !! Sống trong xứ ăn cơm mà phải chịu đói.

Ngoài việc tranh đấu với chén đũa, Ỷ Lan chăm chỉ học tiếng Việt. Mỗi ngày mỗi chữ mới. Nhưng khi phát âm ra, chẳng ai hiểu mô tê chi cả !! Ỷ Lan xoay qua học cách phát âm tên từng người trong nhà.

Thuở ấy, người ra kẻ vào thường dùng chữ “đạo hữu” học khá dễ. Nhưng tên các vị Thượng tọa, Đại đức thì rắc rối lắm. Do sự đoán mò, và do một vị tu sĩ ưa khôi hài giải thích bậy, Ỷ Lan nghĩ rằng mỗi lần họ đi đâu đều “thích” đổi tên mới ! Ỷ Lan được giải thích rằng, chẳng hạn khi qua Pháp, họ phải lấy tên mới, nên mới gọi là “pháp danh” (tên ở Pháp). Có một vị tên là Thích Pháp Kiến rất dễ nhớ. Tên người ở Pháp lấy theo tên thánh không có nghĩa. Ở Việt Nam, mọi tên đều mang ý nghĩa. Có khi thơm tho, thơ mộng, như Quỳnh Hoa, Thu Ba, Mộng Tuyết… Có khi oai nghi hùng dũng, như Thiếu Dũng, Văn Hùng… Có khi mơ ước điều chưa có như Bạch Tuyết. . . Nhưng cũng có tên tuy đủ nghĩa nhưng không cần đẹp, như Đinh Năm Phân, Trần Văn Trụi, Bé Teo, Cu Tí… Hỏi nghĩa Pháp Kiến là gì, thầy Thế Tịnh giảng cho Ỷ Lan là “le fourmi français” (con kiến Pháp). Hồi đó còn dốt hơn bây giờ, Ỷ Lan tin ngay, thấy nhiều ý nghĩa nữa. Đầu thầy trọc và tròn, người béo, suốt ngày bận rộn chạy vô chạy ra các phòng như con kiến. Dù không thích kiến lắm, Ỷ Lan vẫn phục lòng từ bi không phân biệt chủng loại của đạo Phật, như con kiến của thầy Pháp Kiến. Theo lời giải thích của thầy Thế Tịnh, Ỷ Lan tưởng tượng rằng rồi đây khi thầy Pháp Kiến sang hoằng pháp các nước khác như Ý, Mỹ, Thái Lan, Mông Cổ… thầy sẽ phải đổi tên thành Thích Ý Kiến, Thích Mỹ Kiến, Thích Thái Kiến, Thích Mông Kiến ??! !

Thời đó là thời kỳ “khám phá” học hỏi nhiều nhất của Ỷ Lan. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư ! Ai dạy cho mình dù là nửa chữ vẫn là thầy của mình, nên Ỷ Lan có không biết bao nhiêu là thầy. Thầy hay, cũng như thầy bông lơn bậy bạ. Hèn chi người Việt có câu : “nhiều thầy thúi ma!” (Vậy khi chữ Việt của Ỷ Lan không được thơ mộng lắm, cũng xin Bạn đọc tha thứ cho !) Và sở dĩ Ỷ Lan hăm hở học hết cả chuyện đúng, chuyện sai, chuyện ngược, chuyện xuôi luôn, mà không biết phân biệt, là cũng vì nạn nhiều thầy dạy “nửa chữ” như thế.

Có một thầy học dạy Ỷ Lan chữ “đồng hồ”. Ông giải thích chữ “đồng” là kim loại dùng để làm đồng hồ thời xưa, và chữ “hồ” nghĩa là con chồn, chạy nhanh như thời gian. Và khi giảng chữ “huệ trí” trong truyện ngắn “Con thằn lằn chọn nghiệp” của nhà văn Hồ Hữu Tường, ông nói “huệ” là hoa huệ trắng, tên là hoa lys của Pháp; “trí” là trí tuệ, tinh thần. Huệ trí là trí tuệ trắng thơm như bông huệ. Về nhà khoe bài học mới với anh em trong tòa soạn, Ỷ Lan không hiểu vì sao ai cũng bật cười về “đồng hồ con chồn” và “bông huệ trắng” thơm tho của mình !!

Trưa nay, ngồi dưới giàn bầu mơ mộng chuyện thời xưa. Không phải chuyện thời xưa khi tóc còn để chỏm, mà “thời xưa” đã có tóc thề !! Vì “thời để chỏm mẫu giáo”, Ỷ Lan “ham chơi” đi học tiếng Anh, tới khi lớn mới bắt qua tiếng Việt !!! Nhưng thà trễ còn hơn không, phải không các bạn ?

Xung quanh vườn im lặng như tờ. Sao không còn nghe tiếng máy chữ lóc cóc của anh Thi Vũ . Nhìn lên, thấy anh cười ngạo, tay chỉ bàn viết của Ỷ Lan. Liếc xuống bàn, một chồng sách báo và tự vị bày ra “dọa” thiên hạ, chứ chẳng viết lách chi được. Nãy giờ Ỷ Lan chỉ lách, chứ chưa viết. Và suốt những giờ thả hồn mơ mộng, giấu mình sau chồng sách, một giây “râu” bầu đã vểnh ra, cuốn vòng quanh cây bút còn cầm trên tay như cuốn “lò xo”. Râu bầu là nụ cười nhếch mép của thiên nhiên đang vạch trần “âm mưu” không chịu làm việc của mình !!

Ỷ Lan càng hiểu thêm sâu sắc câu ca dao Việt :

Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn !

Tự thấy đời mình cuốn ốc “chung giàn” với người Việt . Ngày càng buộc chặt. Ngày càng vươn cao. Ngày càng đi xa, đi chung mãi mãi về phương trời quê mẹ.

Tiếng cười của anh Thi Vũ làm rung rinh đàn bướm trắng đang ngủ trưa trên những nụ hoa bầu. Bướm tung tăng bay dưới nền trời Paris xanh ngắt. Ai biết đâu những con bướm ấy lại không đến từ một giàn bầu xa lắc ở một khu vườn trên đất nước Việt Nam. Bướm tới đây thầm thì kể chuyện nước non với giàn bầu hải ngoại xanh biếc mọc cao giữa Paris tự do.

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/12/27/que-nha-gian-bầu-paris/