Thursday, November 2, 2023

mùa thu nơi đâu


Câu thơ vi vút trong đầu khi bước vào cổng chính vườn Luxembourg. Lãng mạn chút thôi, vì tôi chẳng có người em "tóc vàng sợi nhỏ" nào cả, — như Cung Trầm Tưởng (1932-2022) ngày nào (*1).

Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu...

Vả lại, bây giờ ở đây không còn những ghế đá như xưa.

photo dtk@hdc.com 2018

Hôm nay xem lại tấm hình dưới đây chụp hai hôm trước (31/10/2023), mới để ý góc bên phải có một người đàn bà ngồi một mình trên một banc gỗ, hình như là nhạc sĩ, vì cầm một cây đàn đỏ trên tay. Biết đâu người ấy chẳng đương sáng tác một bản tình ca?

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Mà lạ thật, thơ văn viết về mùa thu xưa nay thường buồn, không hiểu tại sao. Mà thơ buồn về mùa thu, buồn nhất có lẽ là của mấy nhà thơ tiếng Việt. Như mấy câu này của Dương Minh Loan chẳng hạn: 

Và mùa thu lại trở về rồi đó 
Trên núi cao có từng đám sa mù 
Tôi hờ hững tưởng tên mình chưa có 
Cánh hoa nào đang đợi lần mộng du
Xem: Đi vào cõi thơ, Bùi Giáng (1926-1998)

Hồi xưa đọc Le Livre De Mon Ami, nhớ mãi đoạn kể lại kỉ niệm của Anatole France (1844-1924) khi đi ngang khu vườn này, dưới những bức tượng phủ lá vàng.

« X – LES HUMANITÉS

Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. »

Extrait de: Anatole France, « Le Livre de Mon Ami »

Tôi kể bạn nghe, mỗi năm khi trời xao xác vào thu, khi trong nhà bắt đầu phải thắp đèn cho bữa ăn chiều và khi những chiếc lá úa vàng trên cây run rẩy; tôi kể bạn nghe, vào những ngày đầu tháng mười, tôi đi ngang qua vườn Luxembourg, lúc đó mang chút u buồn nhưng đẹp hơn bao giờ hết; vì đó là mùa lá rơi từng chiếc từng chiếc trên vai trắng những bức tượng trong vườn.

Vườn Luxembourg, tôi nghe tên nó từ khi học tiếng Pháp với sách của Gaston Mauger, ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Sài Gòn). Bài học mô tả khu vườn, với mấy đứa trẻ thả thuyền trong hồ nước ở trước dinh Thượng Nghị Viện (Palais du Sénat), làm tôi cứ mơ tưởng được đến đây. Khi sinh được con gái đầu lòng, năm nó lên 2-3 tuổi, vợ chồng tôi liền dẫn nó đến đây, cho nó thả thuyền. Đứa bé không biết cảm nghĩ ra sao, còn cha nó lấy gậy đẩy thuyền, vui sướng như thằng con nít. Đến lượt hai đứa cháu ngoại, chúng tôi cũng dẫn đến đó thả thuyền như mẹ chúng nó ngày xưa.

photo dtk@hdc.com 2023-11-05

Trên boulevard Saint-Michel đi tới khu vườn, tôi thường vào mấy tiệm sách, đặc biệt là những gian bán sách cũ. Cũng như hồi xưa đến Nhà Sách Khai Trí ở Sài Gòn.

Thôi thì đủ cả, sách giáo khoa, văn học, nghệ thuật, khoa học, kinh tế, chính trị, v.v. Hàng ngàn cuốn, nhiều sách in rất đẹp, mà người ta bán lại với giá rẻ mạt không ngờ. Tôi nhớ đã mua ở đây một bản cuốn 
Kim-Vân-Kiêu, traduit du vietnamien par Xuân-Phúc et Xuân-Việt, Connaissance de l'Orient, Gallimard/UNESCO, 1961, Paris, France. Cách đây không lâu, tôi còn mua được một cuốn sách đặc biệt tưởng niệm Jean-François Champollion (1790-1832), người đã phát hiện ra cấu trúc của chữ viết Ai Cập. Trong sách có bản chụp những trang viết tay của Champollion trong suốt bao nhiêu năm trời nghiên cứu. Chỉ lật qua vài trang sách đủ thấy công phu giá trị của nhà in. Tôi ước lượng sách này bây giờ in lại, giá bán cũng cỡ 100 euros là ít. Vậy mà hôm đó tôi trả có 1 euros.

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Hôm nay thơ thẩn vào xem, chợt thấy lọt ra một cuốn sách nhỏ của Lénine (1870-1924). Thấy đề giá tới 10 euros lận. 

Hê hê, bộ muốn giỡn ngươi với tôi sao chớ? Tên chính trị gia "ác ôn" này, bây giờ còn có người đọc nữa sao?

Tố Hữu (1920-2002) viết mấy câu thơ "thổ tả" ca tụng Staline (1878-1953), — bộ hạ của Lénine —, chưa đủ sao, mà mấy anh thợ thơ kia (Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên) cũng bắt chước "bơm" Staline không ngượng mồm (*2). 

Tội nghiệp cho Xuân Diệu, người đã viết một câu thơ rất đẹp về mùa thu:

Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu

Trời mưa lất phất, nhà tôi ghé vào một cửa tiệm bán dù:

photo dtk@hdc.com 2023-10-31

Hướng về phía sông Seine tới trạm métro Saint-Michel Notre-Dame, một câu thơ của Lưu Vũ Tích bay về trong trí nhớ:

Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu
我言秋日勝春朝

Ta bảo rằng ngày thu còn rực rỡ hơn cả buổi sáng mùa xuân



Đặng Thế Kiệt
Paris, 2023/11/02



Chú thích
(*1) MÙA THU PARIS - PHẠM DUY - DUY QUANG
(*2) Lại Nguyên Ân https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10226497557924068&id=1198626660 
Tháng Ba 1953, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên đều có thơ về Stalin





Wednesday, October 25, 2023

em bé và quả bóng đỏ


Hồi nhỏ học trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng ở phố Đa-Kao, thời lớp Nhì hay lớp Nhất, mỗi ngày đi ngang rạp chiếu bóng Asam gì đó, hay vào xem mấy hình rút từ những cuốn phim đang chiếu hay sắp chiếu trong rạp, trưng trên tường, trong cái hành lang nhỏ xíu.
Một hôm thấy một bảng vẽ thật to trên mái cao trước rạp, quảng cáo phim "Em bé và quả bóng đỏ", tự nhiên thích quá.
Bác Lộc gái (chị cả của cha tôi, lấy chồng tên Lộc, ở Thị Nghè) một hôm đến thăm nhà. Không biết tại sao, bà bác hứa sẽ cho tôi, và hình như cả anh tôi nữa, đi xem cuốn phim đó.
Ngày tháng trôi qua, mấy lần gặp bác sau đó, không nghe bác nói gì về lời hứa cũ. 
Từ đó tôi cứ ngẩn ngơ nhớ cuốn phim kia.
Mấy năm sau lên trung học, tôi say mê đọc hết các báo dành cho học sinh thời đó: Tuổi Xanh, Măng Non, Tuổi Hoa, v.v. Tôi thích thú gửi vài bảng chơi ô chữ, tranh vẽ, bài thơ... đăng báo. Lần đầu tiên, tôi có bảng ô chữ tự mình làm ra, với tranh nền là một con chó, 10x10 ô đen trắng, in trên báo Măng Non. Tôi đem khoe với một thằng bạn trong xóm. Nó không tin, làm tôi ấm ức cả buổi, nhưng không biết lấy gì làm bằng cớ.  Báo Măng Non có mục tranh vui cười mà tôi rất thích, nhưng không nhớ tên người họa sĩ phụ trách. Mục này có 2 nhân vật chính là Tư Xún và Ba Xạo, 2 cậu bé lên 12-14 tuổi.
Một hôm tôi cũng vẽ gửi một chuyện vui ngắn bằng tranh, gồm mười hình. 
Đó là một mẩu đối thoại, như sau:
Tư Xún: Vậy nhà bồ giàu lắm nhỉ?

Ba Xạo: Nhà tớ có hàng ngàn gia súc.
Ba Xạo: Làm gì mà giàu.
Tư Xún: Vậy lấy gì nuôi?
Ba Xạo: Đâu cần nuôi. Toàn là ruồi với muỗi cả.

Tranh tôi vẽ không được đăng, nhưng lời đối thoại được họa sĩ mục tranh vui cười lấy nguyên văn và vẽ lại hoàn toàn, đề tên tác giả là tôi.

Cha tôi xem báo, có vẻ hãnh diện lắm. Nhưng tôi không biết cha có nhận ra rằng tranh vẽ không phải của tôi.

Năm 14 tuổi, tôi viết một bài gửi đăng báo Măng Non, bây giờ còn nhớ như in:

Buổi chiều đi học về, chợt thấy ở một góc đường, có một ông dựng chiếc xe đạp, với một bình khinh khí kềnh càng, bơm những quả bóng màu rực rỡ, buộc vào guidon, đong đưa trước gió. Tôi moi túi quần được mấy đồng bạc cắc, lại mua một quả. Tôi còn xin thêm một sợi dây để nối cho dài. Tôi bước đi, ngước mắt nhìn quả bóng lơ lửng, lòng tràn ngập niềm vui nghĩ đến món quà cho đứa em nhỏ ở nhà. Tôi chợt hụt chân, vuột mất quả bóng trên tay. Và đứng sững nhìn theo nó, từ từ bay lên cao, vượt quá ngọn cây, rồi nhỏ dần, mất hút vào mây.

Bất ngờ hôm qua, xem trên Facebook một tấm hình có một em bé cầm một quả bóng đỏ chạy trên đường phố Paris.

photo Facebook

Không thể nào lầm lẫn: đây chắc chắn là một tấm hình trong cuốn phim thời nhỏ Đa-Kao.

Lời ghi chú kèm theo bức hình rất rõ: 
Le Ballon Rouge 1956. Paris. Court métrage français réalisé par Albert Lamorisse et tourné à Ménilmontant avec la participation des enfants du quartier. (Quả bóng đỏ 1956. Paris. Phim ngắn do Albert Lamorisse thực hiện và quay tại Ménilmontant với sự tham gia của các trẻ em trong phố.)

Tôi bỗng thấy mình trở lại thời 60 năm về trước, thành một chú bé cầm bóng chạy trên đường phố Paris.

Hôm nay viết mấy dòng này để làm chi không biết?

Nhớ đến nhan đề một cuốn sách của Henry Miller (1891-1980): Remember to remember. Souviens-toi de te souvenir.

Chắc phải dịch sang tiếng Việt theo thể điệu phiêu bồng của Guillaume Apollinaire (1880-1918) như thế này chăng:

Mùa thu mãi mãi
Em nhớ cho
Em nhớ nhé đừng quên



Đặng Thế Kiệt
2023-10-25


Ed. 09/03/2026

Hôm nay, xem FB "Paris sera toujours Paris", gặp bức hình người bán bóng trên đường Rivoli, 1947...


















Sunday, October 15, 2023

những trái hồng mùa thu

 

photo dtk 2023: vườn hồng

Sáng nay vào thu, khí trời chỉ hơi se lạnh. Cây hồng trồng mới hai năm đã ra khá nhiều trái. Chợt nhớ những kỷ niệm ngày xưa.

Nhà tôi hồi nhỏ, mẹ đi lấy chồng xa, gửi nhà tôi ở trọ dì Năm. Có phận sự chính là giữ em, đưa võng cho tụi nó ngủ, hoặc bồng đi chơi. Ngày Tết, Là bồng đứa em theo đám múa lân từ sáng tới chiều, đói thì đập bể trái dưa hấu cạp ăn. Tới tuổi đi học trường làng, buổi trưa bà ngoại đem gà mên cơm đến trường. Một bữa bà quên, buổi trưa nhờ người quen nhắn với bà nội nhà ở gần trường sai người nhà đem cơm lại. Là mắc cở, không chịu ra nhận gói cơm. Buổi chiều ra về, cùng với một con bạn. Là đói bụng mờ cả mắt, đi trên đường làng mệt lả, cứ đòi nằm trên bờ cỏ ngủ. Con bạn phải dìu đi mấy lần mới về tới nhà. Lục nồi trong bếp được chén cơm nguội, đem chan nước luộc bầu, ăn ngon lành. Có những ngày không có gì ăn, bà ngoại dẫn Là đi hái mấy trái trâm ăn lót dạ.

Sau bà má gởi tiền về cho dì Năm. Cho Là đi học trường bà sơ ở Lái Thiêu, rồi sau gởi đi nội trú ở Sài Gòn (trường Reginas Pacis). Cuối tuần, không có ai tới rước, ở lại một mình trong phòng nội trú. Chiều chúa nhật, mấy đứa bạn mới lục tục về trường. Có một đứa cùng lớp, mỗi lần về trường đều mang theo quà cáp. Hôm đó, nó cầm trên tay một trái cây rất lạ, màu đỏ cam, giẹt như trái cà chua. Con nhỏ rất đẹp, nhưng bị câm. May có đứa bạn khác nói cho Là biết đó là trái hồng. Hình như lần đó Là chưa được cắn một miếng hồng nào.

Còn tôi, kỷ niệm đầu tiên về trái hồng là trên chuyến tàu di cư từ Hải Phòng, ghé Nha Trang, rồi tới Sài Gòn. 

Tôi còn nhớ rõ, mấy ngày lênh đênh trên biển cả. Lúc đầu, ở dưới hầm tàu. Người ta nôn mửa đầy chung quanh giường sắt hai tầng. Hôi hám muốn nghẹt thở. Cha mẹ tôi xin phép được đưa lên boong tàu. Che bạt nằm, gió biển thổi phần phật. Nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy dễ chịu hơn ở dưới hầm. Bên cạnh chỗ chúng tôi nằm, có ông lính khố xanh khố đỏ, — theo lời cha tôi —, luôn mồm kể chuyện. Tôi nghe ông nói chữ "bánh tây", sau này mới biết đó là "bánh mì". Ông ta còn chia cho chúng tôi miếng bánh biscuit lạt, khổ vuông 10 phân, ăn bùi bùi. Cha tôi bảo đó là trong khẩu phần cho quân đội Pháp.

Mẹ tôi không biết dự bị lúc nào, cho chúng tôi ăn trứng gà luộc, món tráng miệng có sẵn thúng quýt vàng ươm. Lúc ghé cửa biển Nha Trang, có thuyền cập bên hông tàu buôn bán xôn xao. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn củ mã thầy và một thứ quả khô lạ lắm. Đó là những miếng giẹt, hình tròn, trên phủ đầy bột trắng. Mẹ tôi đem ngâm vào nước nóng, bột trôi sạch, hiện ra một thứ trái nâu nhạt, ở giữa nhận ra cuống trái nhiều cánh. Mẹ cắt ra làm nhiều miếng, đưa cho chúng tôi ăn, ngọt ngào, dẻo quẹo.


Đó là lần đầu tiên tôi được thưởng thức trái hồng khô. Hương vị thần tiên.








Tuesday, October 3, 2023

tiễn một người chưa quen trên hè phố đông vui


trên hè phố đông vui, Trương Minh Giảng, Sài Gòn 1973 (lth)


Đọc tin một người nào đó mới qua đời, lòng tôi thường nhói lên một chút.

Hôm qua đọc bản tin, trên FB Gió O Hải Ngoại, được biết Phan Ngọc Hùng (1955-2023), không biết là ai, vừa mới qua đời, lòng tôi cũng nhói một chút. Một chút thôi, — vì tấm hình kèm theo quá rực rỡ.

Rồi đọc và nghe mấy lời hát kèm theo, mà cảm thấy hạnh phúc tràn trề.

We had joy, we had fun
We had seasons in the sun

Đường Trương Minh Giảng? Sài Gòn đó ư? Năm 1973? Như là mới hôm qua. Tôi đã từng lai vãng qua con phố này từ những năm xa lắc. Anh Hùng sao mà cười tươi thế. Hai cô bạn cũng đẹp như hoa. Và nắng Sài Gòn. Chẳng cần áo lụa Hà Đông.

Ba người bạn, tuổi chưa tới hai mươi, trên ngưỡng cửa vào đại học cuộc đời.

Tôi lên youtube kèm theo, nghe đi nghe lại hai ba lần bài hát, mà lòng vẫn vui.

Thời buổi Internet cũng hay. Tôi tò mò tìm trang Facebook của Phan Ngọc Hùng đọc một hai bài cuối anh viết trước đây vài tháng. Thì ra anh cũng dự trước ngày về cõi nghìn thu:

@ FB Phan Ngọc Hùng (1955-2023) Trong những ngày nằm bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, chờ đợi phán quyết chung thẩm của 1 đời người. Sao lòng mình thấy thanh thản và nhẹ nhàng vô cùng. Bởi vì: — Chúa đã dành cho mình quá nhiều yêu thương và ân sủng, — Đức Mẹ đã dạy mình qua 2 tiếng Fiat: "Cám ơn Mẹ, con thực lòng thống hối, Noi gương người, con xin nói "XIN VÂNG" Vẫn vui tươi bước trọn con đường trần, 1 phút, 1 giờ cứ tuân ý Chúa."

Thật cảm động khi đọc bài thơ anh viết cho mẹ:

NGÀY 8 THÁNG 3 CỦA MẸ
8 tháng 3,
Mẹ trốn trong trang sách,
Tìm chuyến tàu,
về thơ ấu xa xưa.
Nhớ tiếng võng,
kẽo kẹt buổi trưa,
Tiếng sáo diều đong đưa trong mây trắng.
Trong vùng ký ức tù mù trống vắng,
Tuổi thơ Mẹ,
bươn chải với nắng mưa,
Ngoại mất sớm,
Mẹ chạy chợ sáng trưa
Để kiếm cái mặc cái ăn từng bữa.
Trong đời Mẹ.
chẳng cần Ngày Phụ Nữ,
Quãng đời Mẹ,
chỉ biết chữ hy sinh.
Mẹ chẳng thiết tha với thói hư vinh,
Chỉ biết chôn mình vào tình mẫu tử. 
Đời của Mẹ,
là 1 trang huyền sử,
Mà câu chữ là những nét gian nan.
Năm lần mái tóc Mẹ vấn khăn tang,
Tiễn chồng, bốn con bước sang cõi chết.   
Tôi nghe da diết những lời:
Người ta,
xuân sắc có thời,
Mẹ tôi,
chinh phụ một đời vọng phu
Đêm đêm nghe tiếng Mẹ ru,
“Cha con chinh chiến tít mù miền xa”
Đó, 
Mẹ tôi là một cành Hoa.
Bước qua giông bão, 
không nhoà toả hương.
Bây giờ Mẹ ở cuối đường,
Dầu con khôn lớn, tình thương vẫn đầy.
Mẹ ngồi đọc sách mê say,
Thả hồn theo chuyến tàu đầy tuổi thơ.
Ừ, 
thôi Mẹ cứ mộng mơ,
Mặc cho tâm thức mù mờ khói sương.
Mẹ ơi,
Đời là cõi vô thường,
Con còn có Mẹ, tình thương muôn đời.

PAUL SARTRE PHAN NGỌC HÙNG (8/3/2023)


Anh Hùng ơi, xin vĩnh biệt một người bạn chưa quen.


Đặng Thế Kiệt
2023-10-03






























Saturday, September 9, 2023

Paris les bouquinistes


Hồi xưa học tiếng Pháp theo  sách của G. Mauger (*1) ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, đọc đến bài mô tả những hàng bán sách trong rương bên bờ sông Seine (les bouquinistes), tôi thích quá.
Không ngờ mấy năm sau (tháng 12 năm 1968) được đến Paris. 
Chân ướt chân ráo, mới hôm thứ hai ở khách sạn Lutèce Paris 5, tôi rủ ngay một anh bạn đi khám phá thành phố. Tôi có 2 chỗ muốn coi trước nhất: tháp Eiffel và mấy hàng sách bouquinistes này đây.
Tôi còn nhớ rõ chữ "bouquiniste" cùng họ với chữ "bouquin", nghĩa là "cuốn sách". Hôm đó chúng tôi từ đường Berthollet đi về phía đường Saint-Jacques, thuộc quartier Latin (*2), ngóng theo ngọn tháp mà đi, khi thấy khi không, quanh co bao nhiêu đường ngang lối dọc. Buổi sáng hôm đó, mỏi nhừ hai cẳng, mà không đến chân tháp Eiffel. Về phòng, mấy anh sinh viên kỳ cựu ở Paris cười bảo tháp Eiffel cách xa khách sạn hàng mấy cây số.
Bây giờ không nhớ tôi đến bờ sông Seine có bouquinistes lúc nào nữa. Nhưng cảm giác bồi hồi, — lần đầu tiên nhìn tận mắt những cái thùng gỗ màu xanh lá cây, bày dọc theo những bức tường đá thấp bên bờ sông —, tôi không bao giờ quên được. 
Sống và làm việc ở Paris gần nửa đời người, càng ngày càng gắn bó với chỗ này. Không biết tôi đã đi bao nhiêu lần rồi, theo dòng sông Seine từ Musée d'Orsay, qua trước mặt Musée du Louvre, ngang Pont Neuf rồi Pont des Arts đến Notre-Dame, lòng thênh thang nhìn nước và mây. Thỉnh thoảng ghé một gian hàng bouquiniste, lật bâng quơ vài trang sách vàng úa, xem một bức tranh cũ của Monet hay một họa sĩ cổ điển nào đó. Hôm nay, bỗng ngạc nhiên vì mình chưa hề mua một cuốn sách nào ở đây cả.
Blaise Cendrars: "Paris là thành phố duy nhất trên thế giới có một dòng sông trôi giữa hai rặng sách (Paris, la seule ville au monde où coule un fleuve encadré par deux rangées de livres.)" (*3)

hình Internet

Tôi bỗng nhớ ra, mỗi lần dẫn bạn bè người quen đến thăm Paris, tôi đều đưa qua chỗ này.









images Internet

Mấy tuần nay, đọc trên Facebook, tự nhiên thấy người ta đưa lên gần như mỗi ngày những tấm hình chụp hoặc tranh vẽ — xưa và nay — những gian hàng bouquinistes rất đẹp. Thì ra bà thị trưởng Paris vừa ra lệnh đòi dẹp bỏ những gian hàng này, — theo con mắt của bà, làm giảm mất bao nhiêu cảnh đẹp dọc hai bờ sông. Lý do chính là chuẩn bị chào đón Thế Vận Hội năm tới 2024. Và vì thế mà hội của những bouquinistes của Paris mới nổi lên chống đối như ong.





Lâu lâu cao hứng tôi hát theo Joséphine Baker (1906-1975): "J'ai deux amours, mon pays et Paris..."  https://www.youtube.com/watch?v=_h6GWWX6MQQ (*2)




Một phần tư sống quê hương,
Ba phần tư sống phố phường người dưng...

Bây giờ chỉ biết nguôi ngoai cùng với mấy rặng sách xanh lá cây, bên dòng sông rêu lờ lững.





 
chú thích
(*1) 
G. Mauger: "cours de Langue et de Civilisation Françaises, tome III
(*2) Cung Trầm Tưởng (1932-2022): gọi là Xóm Học, vì ở đây tập trung nhiều trường Đại học và Grandes Ecoles của Paris.
(*3) Blaise Cendrars (1887-1961): nhà văn nhà thơ gốc Thụy Sĩ, tác giả bài thơ "Les Pâques à New York", sáng tác trước và được coi là có ảnh hưởng lớn trên bài Zone của Apollinaire (1880-1918) 
trong tập Alcools. cf. https://fr.wikipedia.org/wiki/Zone_(poème)







(*2)
J’ai deux amours
On dit qu'au-delà des mersLà-bas sous le ciel clairIl existe une citéAu séjour enchantéEt sous les grands arbres noirsChaque soirVers elle s'en va tout mon espoir
J'ai deux amoursMon pays et ParisPar eux toujoursMon coeur est raviMa savane est belleMais à quoi bon le nierCe qui m'ensorcelleC'est Paris, Paris tout entierLe voir un jourC'est mon rêve joliJ'ai deux amoursMon pays et Paris
Quand sur la rive parfoisAu lointain j'aperçoisUn paquebot qui s'en vaVers lui je tends les brasEt le coeur battant d'émoiÀ mi-voixDoucement je dis "emporte-moi!"
J'ai deux amoursTon pays et ParisPar eux toujoursTon coeur est raviTa savane est belleMais à quoi bon le nierCe qui m'ensorcelleC'est Paris, Paris tout entierLe voir un jourC'est mon rêve joliJ'ai deux amoursMon pays et Paris
Source : LyricFind
Paroliers : Georges Konyn / Henri Eugene Varna / Vincent Baptiste Scotto
Paroles de J’ai deux amours © Universal Music Publishing Group
















Monday, September 4, 2023

lời cảm tạ

 


Thứ bảy, cô bạn Phan Thị Trọng Tuyến (từ Le Havre) hẹn với vợ chồng chúng tôi gặp nhau ở quán Foyer Mon Vietnam, 24 rue de la Montagne Sainte-Geneviève, Paris 5e, để nghe Hòa thượng Huyền Diệu (*1) giảng pháp về Maha Mangala Sutta. Tối hôm trước, Tuyến viết cho tôi qua Messenger có ý muốn tặng tôi một cuốn sách gì tôi thích. Đúng lúc mấy hôm trước, "tình cờ" đọc được trên mạng Internet một truyện ngắn của Tiểu Tử "Thằng đi mất biệt" — làm tôi muốn đứt ruột. Tôi viết hỏi Tuyến có truyện này không. Thế là trưa thứ bảy, Tuyến đem tặng cho tôi tập "Chị Tư Ù". Lật xem mấy trang đầu, hóa ra cuốn này chính là cuốn của tác giả Tiểu Tử ký tặng cho chị từ 10 năm về trước (2013). Buổi tối về nhà, tôi đọc thêm hai ba truyện nữa. Quả thực tôi biết đến nhà văn Tiểu Tử hơi muộn. Tất cả những nỗi đau thương về một quê hương đày đọa, — từ gần nửa thế kỉ nay, dưới tay một bọn người "quỷ quái tinh ma", — đều được giãi bày ra đó. Tôi trằn trọc cả đêm. Sáng sớm nhổm dậy lên gác mở máy ra đọc viết lăng quăng. Mấy tuần lễ vừa qua, tôi đang xếp đặt lại cả trăm hồ sơ tài liệu trong các máy tính. Gặp lại một bài thơ cũ (*2), đã đăng trên báo Quê Mẹ mùa xuân Đinh Mão 1987. Bài thơ nhớ nhà năm ấy mới vụng dại làm sao. Bởi tôi xa nhà nhiều năm trước biến cố 30 tháng Tư 1975, thì khó mà cảm nhận hết những thống khổ của người dân trong nước trong suốt mấy chục năm qua. 

Ấy thế mà khi đọc truyện "Thằng đi mất biệt", tôi lại có cảm giác tác giả nói về mình, đi bao năm biền biệt chưa về.

Đọc truyện "Chị Tư Ù" (*3), đến chỗ người đàn bà bán cá nửa đêm thức giấc, bước ra ngoài, trời đầy sao, gió sông nhè nhẹ, đến trước cửa nhà của tên công an trưởng trong làng. 

"Anh ta bước ra đảo mắt nhìn quanh, rồi mới mời: 

— Vào đi! 

Tiếng "đi" vừa dứt là chị Tư đã bổ con dao phay vào ngay giữa đầu, nhanh gọn và chính xác như chị bổ cái đầu cá."

Chị Tư Ù vừa trả thù cho người yêu của mình đã bị tên này hãm hại.

Tôi thiệt tình hả lòng hả dạ.









Phụ lục

(*1) An Việt Nam Phật Quốc Tự
https://anvietnamphatquoctu.com
Shanti Lumbini Boudha Bhrumi Vihara, Sacred Lumbini Garden, Westside Monastery Zone 
NEPAL


(*3) Chị Tư Ù




Saturday, August 12, 2023

đọc Dương Nghiễm Mậu, từ nước ngoài, 54 năm sau

 

Tối hôm qua, chậm rãi đọc truyện ngắn "Ngày đốn cây vú sữa" (*1) theo link trên trang Facebook Hồ Thị Ngọc Trang (*2), sáng thức dậy, lòng mãi bùi ngùi.

Dòng cuối truyện ngắn ghi năm viết: 1969, một năm sau khi tôi đi du học nước ngoài, cho đến năm nay 2023, vẫn biền biệt chưa về.

Vài năm trước ngày ra đi, thời học trung học ở Sài Gòn, tôi nhớ có đọc qua vài cuốn sách của tác giả Dương Nghiễm Mậu (*3) trên báo Văn, Con sâu, Tuổi nước độc, v.v., nhưng bây giờ không nhớ gì nữa cả.

Dương Nghiễm Mậu (1936-2016), ký họa của Tạ Tỵ

Truyện kể diễn ra vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam bắt đầu trở nên khốc liệt, ở đâu đó một miệt vườn miền Nam. Tôi liên tưởng đến ngay vùng Củ Chi, là quê quán của nhà tôi. Những nhân vật và tình tiết trong truyện rất gần với những lời nhà tôi kể cho nghe từ gần một đời chung sống.

Dương Nghiễm Mậu lấy lời một người già sống ở khu làng đó, với một người vợ nhà quê, có hai đứa con trai, đứa lớn sống ở quận lị, đứa em vô bưng theo phe "cách mạng".

Câu chuyện gần như chỉ là những mẩu đối thoại giữa những người dân mộc mạc miền Nam, sống lay lắt trong bối cảnh chiến tranh xâu xé, — một bên là quân đội, dân vệ... Việt Nam Cộng Hòa, một bên là quân du kích "cách mạng giải phóng". Đồng thời với sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, với những hậu quả trong đời sống và ảnh hưởng về môi trường thiên nhiên (thuốc khai quang).

Ông già, nhân vật chính trong suốt câu chuyện, chỉ lo lắng tìm đường yên sống qua ngày, cho hai vợ chồng mình, cho hai đứa con trai và gia đình họ. Ban ngày, người của quận xã chính phủ lại dò la tung tích đứa con thứ hai, làm áp lực tìm cách "chiêu hồi" nó về với chính quyền. Ban đêm, cán bộ cộng sản lại dọa nạt người cha chớ có "lôi thôi dụ dỗ" con trai về "phe nguỵ", mà chịu khốn với "quân cách mạng".

Thế rồi, đúng ngày ông già quyết định đốn cây vú sữa, — vì từ nhiều tháng qua, lá nó úa vàng, rơi rụng dần dần, vô phương cứu sống —, người trong làng đến báo tin có người bị bắn chết bỏ xác bên một bờ rạch. Ông già ra đến nơi, lật miếng khăn che mặt xác chết, nhận ra đứa con trai thứ hai của mình.

Trên trang Facebook, Hồ Thị Ngọc Trang đặt câu hỏi (đối với người đọc bản dịch sang tiếng Anh):
Với cách đặt tên của người miền Nam: 'thằng hai, thằng ba , thằng tư,' Dương Nghiễm Mậu cố tình không viết hoa 'hai, ba, tư' vì họ không còn là những cá nhân có xác định cụ thể nữa, mà có thể là bất cứ thanh niên nào trong thời điểm đó. Dịch giả rất tinh nhạy khi dùng 'Our eldest son' cho thằng hai, 'the other son', 'my youngest son' cho đứa con kia. Chẳng biết cái không khí chiến tranh trong truyện có đến với người đọc nước ngoài chăng mà thôi.

Xa nhà đã gần cả đời người, có lẽ cũng trở thành như một người nước ngoài thôi, nhưng tôi có thể khẳng định rằng: không khí chiến tranh ép bức người đọc từ câu đầu đến câu cuối.

Đọc xong, tôi miên man nghĩ đến những chứng tích lịch sử chiến tranh trong văn chương Việt Nam:

# Nhã Ca: Giải Khăn Sô Cho Huế; Tình Ca Cho Huế Đổ Nát
# Hồ Đình Nam: HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
VÀ VỤ THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN HUẾ 1968
https://www.facebook.com/gioohaingoai
# Nguyễn Thị Thái Hòa: NHÂN CHỨNG SỐNG TRONG ĐỢT THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN Ở HUẾ  
https://hon-viet.co.uk/NguyenThiThaiHoa_NhanChungSongVuCSSatHaiNguoiDanHueTetMauThan1968.htm

Có khủng khiếp không: cảnh Hoàng Phủ Ngọc Phan (em Hoàng Phủ Ngọc Tường) trong một ngày chạy khắp thành phố Huế lùng bắt và giết cho bằng được gần trọn một gia đình (người quen cũ của ông ta) — từ hai ba người con, người bạn sinh viên Văn Khoa của một trong những người con này, cho tới ông nội 70 tuổi của nhân chứng Nguyễn Thị Thái Hòa. Tất cả những người bị bắn đều bị đem vứt xuống một hố chôn tập thể đào ở trong vườn nhà các nạn nhân.

Không khỏi kinh hoàng khi ôn lại cảm tưởng lúc đọc xong cuốn tiểu thuyết "Giờ thứ hai mươi lăm", xuất bản năm 1949, của nhà văn Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992), thời Thế chiến thứ hai, ở Đông Âu: những nông dân chất phác, những nhà trí thức nhân bản... bị đày đọa, tra khảo, giết chết, đưa từ nhà tù này đến nhà tù khác (thuộc về tất cả những phe phái tham chiến: Đức Quốc Xã, Liên Xô và cả quân đội Mỹ đến giải cứu Âu Châu); những người vợ hiền lành, những cô gái ngây thơ... bị quân Liên Xô hãm hiếp ngày đêm như súc vật.

Gần nửa thế kỷ sau "Ngày đốn cây vú sữa" (1969) của Dương Nghiễm Mậu, nhà văn Tiểu Tử qua truyện ngắn "Thằng đi mất biệt" (*4) (Chị Tư Ù, Tác giả xuất bản, 2012), xác nhận thêm một lần nữa, thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam: (1945-1954-1968-1975-????).

Khóc lên đi, hỡi quê hương yêu dấu (Alan Paton, 1903-1988).




Đặng Thế Kiệt
2023-08-12



Chú thích

(*1) Ngày Đốn Cây Vú Sữa
https://www.facebook.com/nghiemtr.ho
Truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu
Võ Đình Mai chuyển sang Anh ngữ
Đăng trong War and Exile, A Vietnamese Anthology
Vietnamese PEN Aboard, East Coast U.S.A., 1989
THE DAY THE MILK-BREAST TREE WAS CUT DOWN
Nguyên bản tiếng Việt
(*2) Hồ Thị Ngọc Trang là vợ của nhà văn Dương Nghiễm Mậu.
(*3) Dương Nghiễm Mậu (1936–2016)
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dương_Nghiễm_Mậu
(*4) Thằng đi mất biệt





Tuesday, July 25, 2023

đây thiên đường tổ quốc chúng ta


Lời dẫn: từ tối hôm qua, 2023-07-24, trên diễn đàn của nhóm huediepchi, anh bạn trẻ ở Việt Nam ha@hdc.com gửi cho một bài viết nhan đề "NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ" (xem chú thích 2). Nói về tình trạng suy sụp đạo đức của người Việt Nam từ sau biến cố 1975.


nguồn hình: https://binhthtran.com/baochinhviet/index.php/tho-van/224-vung-ky-uc-thien-duong-xhcn


Trao đổi với nhau qua 7 bức thư, ý tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của những tác giả bài viết.

Nhân thể ghi lại vài kỉ niệm riêng về đề tài này (cf. chú thích 3-4-6).

Trong bức thư thứ 4, tôi nhớ lại lần về thăm nhà lần đầu tiên sau 1975, kể chuyện như sau:

Nhớ năm 1996 về thăm lại Đà Lạt. Hôm đó ở trên một đồi cao bên bờ hồ Xuân Hương, chúng tôi gặp một bà gánh hàng rong bán khô mực. Vừa quạt than vừa nướng khô mực, bà ấy kể chuyện bà đã về hưu, nhưng vẫn phải đi bán hàng, để có tiền nuôi con trai bà ăn học ở Sài Gòn. Tiền hưu trí của bà đâu khoảng 10-20 US dollars mỗi tháng. Khi trả tiền, không nhớ là bao nhiêu, nhưng rất rẻ so với vật giá thời kì đó. Chúng tôi xin biếu thêm, nhưng bà nhất quyết từ chối.

Cho thấy rằng, trong một xã hội xấu xa cách mấy đi nữa, vẫn luôn luôn còn có những người chân thật.
Đó là niềm hi vọng cho một ngày mai tươi sáng cho đất nước Việt Nam.

Ý tôi muốn an ủi bạn HA ha@hdc.com rằng dù trong hoàn cảnh vô cùng đen tối của đất nước bây giờ, Việt Nam ta vẫn còn mãi mãi những con người tử tế.

Tôi vụt nhớ lại những kỉ niệm xưa từ khi còn thơ ấu ở Hà Nội 1954, rồi đến khi ra nước ngoài từ trước 1975. 

Năm 1954, ở Hà Nội, trong ban nhi đồng, anh cả tôi được dạy hát như sau:

Đây thiên đường tổ quốc chúng ta,
Đây ruộng vườn quê hương ngàn đời...


Năm 1975, trên báo Sinh viên Việt Nam tại Pháp (tên là "Liên Hiệp" thì phải) đăng lời kêu gọi của Trần Bạch Đằng: "Hãy tin chúng tôi."

80℅ sinh viên Việt Nam chạy theo ủng hộ, hoạt động ráo riết cho những chương trình Nhà nước Cộng Sản: "Chân Trời 80", "Chân trời 90"...

Ông Trần Văn Khê đến diễn thuyết ở Faculté de Lettres, ở tỉnh tôi theo học lúc đó. Bạn bè tôi đua nhau xin trường học của họ bao nhiêu là sách đại học về đủ các bộ môn, máy móc dụng cụ nghiên cứu... gửi về nước.

Năm 1996, về nước lần đầu sau 1975, ra xem các tiệm sách lớn ở Sài Gòn, chỉ rặt thấy bày bán Hồi ký Trần Văn Khê, cùng sách của dăm nhà văn, nhạc sĩ (Sơn Nam, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường...) có công với cách mạng.

Có một chị quen, về nước từ khoảng năm 1972, làm giáo sư tiến sĩ dạy ở Đại Học Cần Thơ. Chị ấy còn hăng hái tham gia tòa án nhân dân nữa chứ. Sau năm 2000 thì trở qua Mỹ. Vẫn chưa có dịp hỏi chị ấy về kinh nghiệm XHCN bây giờ ra sao.

Nhà văn ly khai Tiệp Khắc Milan Kundera (1929-2023), trở thành nhà văn ở Pháp, đã viết:

Để thanh toán các dân tộc, người ta bắt đầu bằng cách tước bỏ trí nhớ của họ. Chúng nó phá hủy sách vở của bạn, văn hóa của bạn, lịch sử của bạn. Những kẻ khác viết ra những cuốn sách khác, lồng vào đó một văn hóa khác, bày đặt ra một câu chuyện khác - một lịch sử khác; sau đó, người dân dần dần quên mất bây giờ mình là ai và trước kia mình là ai. 
(Pour liquider les peuples, on commence par les priver de la mémoire. Ils détruisent tes livres, ta culture, ton histoire. Quelqu'un écrit d'autres livres, leur donne une autre culture, invente une autre histoire ; plus tard, les gens commencent à oublier lentement ce qu'ils sont et ce qu'ils étaient.)


Đặng Thế Kiệt
2023-07-25




Chú thích

(1)
Ký ức 30-4-1975 trong lòng thủ đô nước Pháp (web Công An Nhân Dân)
https://cand.com.vn/thoi-su/Ky-uc-30-4-1975-trong-long-thu-do-nuoc-Phap-i388229/
Giới thiệu Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp (Union des étudiants Vietnamiens en France, viết tắt là UEVF)
https://www.uevf.fr/gioi-thieu/
Sinh viên VNCH biểu tình chống Trung Quốc năm 1974
https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49658957

(2)
from: ha <ha@hdc.com>
reply-to: <hdc@googroups.com>
to: <hdc@googroups.com>
date: 24 Jul 2023, 07:15
subject: NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ

Đúng là cách hành xử của người Việt thật sự có vấn đề so với những nơi khác.
Người Thái Tử Tế 
Hồi nhỏ, mỗi lần nghĩ đến người Thái thì tôi luôn liên tưởng đến “hải tặc” hay “cướp biển Thái Lan”. Có lẽ vì đó là hình ảnh duy nhất mà tôi được nghe người Việt nhắc đến nhiều nhất với con cháu. Sau này lớn lên, tôi mới biết, ngoài những chuyện như hải tặc Thái Lan ra, thì cũng nghe đến người Thái đã mở rộng vòng tay tiếp đón người Việt tỵ nạn trong lúc chờ đợi định cư đến các nước tự do sau biến cố 1975. Thậm chí, tôi được biết, có những gia đình người Thái đã cưu mang nhận trẻ mồ côi Việt Nam làm con và nuôi nấng các em vô cùng tử tế. 
10 năm trước, tôi đang bế con nhỏ 6 tháng tuổi trên tay đứng chờ băng qua con đường tấp nập xe cộ tại Bangkok. Một anh cảnh sát giao thông Thái thấy tôi đứng mãi mà vẫn không qua đường được. Anh liền chạy ra giữa đường ra hiệu cho các xe chạy chậm để tôi bế con qua đường. Tuy chỉ là hành động nhỏ, nhưng làm tôi xúc động cảm mến hình ảnh anh cảnh sát giao thông đó mãi. 
Mới đây nhất, đến đất nước Thái, tôi lại càng vô cùng thán phục lòng tử tế và sự chất phác của họ.
Một anh thợ cắt tóc người Thái không biết một từ tiếng Anh nào. Thấy anh tận tụy cắt mái tóc cho đứa con trai tôi gần nửa tiếng đồng hồ. Đến khi trả tiền, anh ra dấu mấy lần mà tôi vẫn không hiểu chính xác là bao nhiêu. Cuối cùng tôi đành móc hết tiền mặt trong ví ra, xoè hết trên tay để anh tự lấy. Anh chọn đúng ba tờ 20 baht (khoảng dưới 3 đô Úc). Tôi tròn xoe mắt vì thấy rẻ quá. Tôi liền đưa thêm cho anh một tờ 20 baht nữa. Nhưng anh ra dấu lắc đầu nhất quyết không chịu nhận. Tôi đành chào gật đầu cảm ơn anh và ra về. Lòng thầm cảm phục sự thật thà và liêm khiết của người thợ cắt tóc này.
Một lần khác tôi đi chợ trời. Mặc dù sau khi đã đồng ý giá cả với một bác gái bán hàng, lúc trả tiền tôi lại gửi cho hơn những gì mình đã đồng ý. Một điều rất thú vị là, tuy lúc trả giá thì bác bán hàng này tính rất kỹ, nhưng một khi đã thuận giá bán rồi thì bác nhất định không chịu nhận thêm. Ồ, người Thái có lòng tự trọng và đặc biệt lạ lùng. 
Người Thái luôn mở lòng tiếp đón khách hàng. Ngay cả khi mình coi đồ đã đời mà vẫn không mua, họ vẫn nở nụ cười chào mình khi ra khỏi cửa tiệm. Đây là một điều rất hiếm thấy ở Việt Nam. 
Với tôi, nếu xét xem một đất nước có văn minh và vững mạnh như thế nào thì trước hết, hãy nhìn vào những hình ảnh đơn sơ, cách sống bình dị của từng người dân bé nhỏ nhất trong xã hội đó. Chứ không chỉ là hình ảnh của những biệt thự, xe hơi, đường rộng cao tốc hay những tòa nhà chọc trời. 
Tuy nền chính trị của Thái vẫn còn nhiều bất ổn, nhưng một đất nước với nhiều con người đầy lòng tự trọng và tử tế như thế, thì tin chắc nhân quyền và tự do đích thực sẽ là con đường đầy hứa hẹn trên đất nước của xứ sở Chùa Vàng này.
TERESA TRẦN KIỀU NGỌC 
***
SÀI GÒN MẤT TÊN … NGƯỜI MIỀN NAM MẤT NƯỚC 
Nước Việt cộng sản hôm nay là nhà tù lớn độc tài . 
Văn hóa cai trị của miền Bắc cộng sản là bạo lực khủng bố , cướp và giết người . 
Văn hóa thiện nhân yêu hoà bình của người miền Nam đả bị phá hủy và bị tiêu diệt 😥
HUNG DỮ : NGƯỜI VIỆT THAY ĐỔI SAU 1975
Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ.
Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng, cúi đầu, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói:  
“Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng: Người Việt của bạn là những người hung dữ”.
Đấy là tình cảnh một dịp gần đây, trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jakarta (Indonesia), tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi. Trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc, chị hỏi tôi từ đâu đến.
Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. “Tại sao chị lại nghĩ vậy?” – Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch.
Đến TP.HCM, khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại, rồi vút đi bằng xe máy.
Vụ cướp giật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể (do bị kéo té ngã) mà còn cú sang chấn về tinh thần: Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy chị lại hoảng hốt.
Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền TP.HCM đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.
Chị cho biết, trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh: Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn, xô đẩy; người ta bóp kèn inh ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút.
Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.
Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt: Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. 
Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm, người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế.
Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo đẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời.
Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc, đầy ắp tiếng cười, nhưng không phải. Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rả rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi.
Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm mống của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ?
Người Việt chúng ta là những người hung dữ., Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó . Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trút giận lên nhau?
Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự TP HCM. Đó là Manila (Philippines) và Jakarta (Indonesia).
Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùn tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng.
Nhưng thật lạ, trong bốn năm sống ở Manila và một năm rưỡi sống ở Jakarta, tôi thấy trên đường phố, dù kẹt xe đến mấy, ít ai bóp còi.
Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh, tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nạt như tôi từng gặp mỗi khi về nước.
“Người Việt là những người hung dữ”, câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bột phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình (bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản), trong trường học (bạo hành học sinh), trên mạng xã hội (người ta có thể thoải mái mạt sát, thóa mạ lẫn nhau).
Đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng.
Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.
Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm, bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự.
Theo lời bình của bộ phim: “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn…”.
Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bền vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.
(Nhà văn NGUYỄN PHAN QUẾ MAI)
--
Flos Folium et Ramulus Semper Virens
---

(3)
from: d- tk <dtk@hdc.com>
to: huê diệp chi <<hdc@googroups.com>>
date: 24 Jul 2023, 20:30
subject: Re: NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ

Gửi HA hai câu thơ của Đỗ Phủ, đời nhà Đường, so với ngày nay không khác chi mấy.
◇Đỗ Phủ 杜甫: Khóa mã xuất giao thì cực mục, Bất kham nhân sự nhật tiêu điều 跨馬出郊時極目, 不堪人事日蕭條 (Dã vọng 野望) Cưỡi ngựa ra ngoài thành nhìn mút mắt, Đau lòng vì cảnh đời ngày một suy đồi, rách nát.

(4)
from: d- tk <dtk@hdc.com>
to: huê diệp chi <<hdc@googroups.com>>
date: 24 Jul 2023, 23:11
subject: Re: NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ

Nhớ năm 1996 đi thăm lại Đà Lạt. Hôm đó ở trên một đồi cao bên bờ hồ Xuân Hương, chúng tôi gặp một bà gánh hàng rong bán khô mực. Vừa quạt than vừa nướng khô mực, bà ấy kể chuyện bà đã về hưu, nhưng vẫn phải đi bán hàng, để có tiền nuôi con trai bà ăn học ở Sài Gòn. Tiền hưu trí của bà đâu khoảng 10-20 US dollars mỗi tháng. Khi trả tiền, không nhớ là bao nhiêu, nhưng rất rẻ đối với vật giá thời kì đó. Chúng tôi xin biếu thêm, nhưng bà nhất quyết từ chối.
Cho thấy rằng, trong một xã hội xấu xa cách mấy đi nữa, vẫn luôn luôn còn có những người chân thật.
Đó là niềm hi vọng cho một ngày mai tươi sáng cho đất nước Việt Nam.
 
(5)
from: ha <ha@hdc.com>
reply-to: <hdc@googroups.com>
to: <hdc@googroups.com>
date: 25 Jul 2023, 06:47
subject: Re: NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ

Đáng tiếc sau 27 năm thì nó trở nên tồi tệ hơn.
Anh nghĩ vấn đề này nằm ở giáo dục, văn hóa hay do yếu tố nào?

(6)
from: d- tk <dtk@hdc.com>
to: <hdc@googroups.com>
date: 25 Jul 2023, 09:53
subject: Re: NGƯỜI THÁI TỬ TẾ … NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ

Câu trả lời bây giờ đã quá rõ.
George Orwell, trong Animal Farm và 1984, đã mô tả trọn vẹn loại xã hội này.
Đại khái, có một tay nào đó, đam mê quyền lực - quyền lợi, hiển nhiên là rất khôn lanh, hắn dựa vào một lí thuyết theo chiều hướng thích hợp với lí tưởng của mình, chủ trương cách mạng lật đổ xã hội đương thời -- mà hắn cho là bất công phản động, để hứa hẹn một thiên đường ca hát, đem lại ấm no, hạnh phúc, công bằng cho mọi người.
Để củng cố cho lãnh tụ và tập đoàn của hắn, họ dùng mọi thủ đoạn gian manh, che giấu sự thật, làm ngu dân để dễ bề cai quản... 
Kết quả: một băng đảng đặc quyền đặc lợi thao túng toàn thể nhân dân, — sống trong nghèo đói, tăm tối... 
Giai đoạn tiếp theo, luật tự nhiên, băng đảng chia chác không đều, bất đồng ý kiến nội bộ... Thế là họ tự chia rẽ nhau, tranh chấp quyền hành lẫn nhau, tạo thành những sứ quân sát phạt nhau.
Có lẽ bây giờ XHCN Việt Nam đang ở giai đoạn này.
Bắc Bộ Phủ 2023 chỉ đang vơ vét tối đa, đem của cải ra nước ngoài, gửi họ hàng con cháu đi mua nhà mua đất, lập cơ sở làm giàu... ở những quốc gia tư bản tự do. 
Chờ ngày sụp đổ.

(7)
d- tk <dtk@hdc.com>
11:54 (39 minutes ago)
to huê

Năm 1954, ở Hà Nội, trong ban nhi đồng, anh tôi được dạy hát như sau:
Đây thiên đường tổ quốc chúng ta,
Đây ruộng vườn quê hương ngàn đời...

Năm 1975, trên báo Sinh viên Việt Nam tại Pháp (tên là "Liên Hiệp" thì phải) đăng lời kêu gọi của Trần Bạch Đằng: "Hãy tin chúng tôi".
80℅ sinh viên Việt Nam chạy theo ủng hộ, hồ hỡi hoạt động ráo riết cho "Chân Trời 80", "Chân trời 90"...
Ông Trần Văn Khê đến diễn thuyết ở Faculté de Lettres, ở tỉnh tôi theo học lúc đó. Bạn bè tôi đua nhau xin trường học của mình bao nhiêu là sách đại học về đủ các bộ môn, máy móc dụng cụ nghiên cứu... gửi về nước.
Năm 1996, về nước lần đầu sau 1975, ra xem các tiệm sách lớn ở Sài Gòn,  chỉ rặt thấy bày bán Hồi ký Trần Văn Khê, cùng với sách dăm nhà văn, nhạc sĩ... có công với cách mạng.
Có chị quen tôi, về nước từ khoảng 1972, làm giáo sư Tiến Sĩ dạy Đại Học Cần Thơ. Chị ấy còn hăng hái tham gia Tòa Án Nhân Dân nữa chứ. Sau năm 2000 thì trở qua Mỹ. Vẫn chưa có dịp hỏi chị ấy về kinh nghiệm XHCN bây giờ ra sao.
dtk