Thursday, April 18, 2019

con ngỗng


Con ngỗng ấy, hai đứa con anh chị Thông đặt tên là Tokata. Cái tên Tokata hình như là tên một con ngỗng nổi tiếng trong bộ phim hoạt họa dành cho trẻ em trên đài truyền hình lúc bấy giờ.

Hôm ấy, anh chị Thông bàn với vợ chồng tôi, phải lấy quyết định về việc con ngỗng này. Ai cũng thương nó lắm, nhất là đám trẻ con bốn đứa của hai gia đình. Nhưng con ngỗng đã lớn quá rồi, biết đem đi đâu, đành phải làm thịt chứ sao bây giờ.

Anh Thông chủ nhà, lại có phần dạn tay, lãnh nhiệm vụ cắt tiết, còn tôi phụ giữ cánh ngỗng.  Thế là hai người lặng lẽ ra vườn bắt con ngỗng đem vô nhà để xe, nhân lúc mấy đứa trẻ con đang chơi đùa chỗ khác.

Vụt hai kỉ niệm thời thơ ấu bay về trong trí nhớ. Một lần cha tôi sửa soạn làm tiết canh vịt. Ngâm con vịt vô thau nước nóng (cho dễ lột lông), lúc cha tôi vừa cứa cổ nó, thì vuột tay, nó vùng lên chạy vụt ra đường, kêu oác oác inh ỏi cả xóm. Mấy người phải đuổi theo, rất khó khăn mới chụp được bắt nó về nhà. Một lần khác, anh tôi được giao cho phận sự cắt cổ một con vịt khác. Tôi bị chỉ định cầm cánh vịt. Anh tôi còn hơi vụng về, cứa tới cứa lui. Còn tôi hai tay ghì chặt hai cánh con vịt. Một hồi lâu, lúc buông tay ra, thì cổ vịt chưa đứt, nhưng nó nằm đơ ra — vì ngạt thở.

Anh Thông và tôi hì hục một lúc, rồi cũng xong. Tôi nhớ tối hôm đó, được ăn một bữa cháo ngỗng thiệt là ngon. Sau đó nhiều tuần, anh Thông còn kể họ đem thịt ngỗng làm dồi, làm chả... ăn mấy bữa chưa hết.

nguồn: Internet

Tại sao hôm nay tôi lại nhớ lại chuyện giết vịt và ngỗng này?

Số là từ tối hôm qua, duyệt đọc Phật Quang Đại Từ Điển, tới mục từ "nga châu" (con ngỗng nuốt hạt châu), rồi cả đêm suy nghĩ miên man cho đến sáng, vừa mới kiểm lại xong hai cột văn Hán Việt đối chiếu, từng chữ một. Từ hơn một năm nay, chăm chỉ dò lại từng trang bộ từ điển, mỗi lần vẫn cứ ngạc nhiên về công phu dịch thuật của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Nhưng hôm nay, là chuyện khác.

Trích lại dưới đây nguyên bản dịch mục từ nga châu [鵝珠] (con ngỗng nuốt hạt châu) (*):

    Cứ theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận quyển 11, xưa kia, có một vị tỉ khưu khất thực đến trước nhà người thợ xâu ngọc, lúc đó người thợ đang xâu ngọc ma-ni cho nhà vua, thấy vị tỉ khưu đến, người thợ liền để viên ngọc xuống và vào nhà lấy thức ăn cúng dường. Khi ấy, có một con ngỗng đến nuốt mất viên ngọc, lúc người thợ trở ra không thấy viên ngọc liền ngờ và tra hỏi vị tỉ khưu; vị tỉ khưu tự nghĩ: “Nếu mình nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết, như vậy mình đã phạm giới sát sinh, còn nếu nói không đúng thì phạm giới vọng ngữ, thôi, im lặng là hơn.” Thấy vị tỉ khưu không nói người thợ càng thêm nghi ngờ, liền trói vị tỉ khưu lại và dùng gậy đánh đập đến nỗi tai, mắt, miệng, mũi đều ra máu. Con ngỗng lúc nãy thấy máu liền đến ăn, bị người thợ ngọc tức giận đánh chết. Vị tỉ khưu trông thấy thương xót buồn rầu và nói kệ rằng:
    “Xưa có vị Bồ tát
    Bỏ mình cứu bồ câu
    Nay tôi cũng làm theo
    Xả thân để cứu ngỗng
    Vì có lòng thương xót
    Muốn bảo toàn mệnh ngỗng
    Giờ ông đã giết ngỗng
    Tâm nguyện tôi chẳng thành.”
    (Đại 4, 320 hạ).
    Bấy giờ, người thợ ngọc mổ bụng ngỗng, thấy viên ngọc trong đó, liền òa lên khóc và nói:“Ngài muốn cứu mệnh sống của ngỗng mà không tiếc thân mình, khiến tôi làm việc bất nhân này!”
    [X. Kinh Luật Dị Tướng Q.14].


Ồ, thế là truyền thống nhà sư khất thực hẳn đã lâu đời. Xã hội Ấn Độ thời đó có vẻ còn thô sơ lắm. Một người thợ ngọc xâu ngọc cho nhà vua, mà có cả con ngỗng vào tới cửa tiệm, không khỏi buồn cười.  Nhà sư nọ có vẻ rất từ bi và can đảm.  Biết noi gương người trước thí mạng mình để mong cứu sống một con ngỗng. Mà sao thời đó, một anh thợ ngọc, cũng là một Phật tử, lại cả gan đánh hộc máu mồm một tỉ khưu!

May mà anh ta còn biết hối cải, khóc lóc, nhận lỗi minh đã làm việc bất nhân.


Tham khảo













Thursday, March 21, 2019

Vũ Hoàng Chương


Năm đó tôi còn nhỏ, chỉ biết ăn và học, sợ cha kính thầy. Đùng một hôm, lớp học bỗng nhốn nháo, ồn lên. Ông thầy khả kính hôm qua, mặt xám xanh — vì giận? vì sợ? —, bất lực không giữ nổi kỉ luật cho đám học tròn non! Học sinh đổ ra ngoài. Tôi chen lấn đọc bài thơ viết phấn màu trên một tấm bảng đen dựng trước cổng trường, kí tên tác giả Vũ Hoàng Chương. Bài thơ nói về lửa, tôi chẳng hiểu chi nhiều, nhưng biết đó là một thi sĩ lớn... Tôi thấy tôi đứng giẫm chân lên một bàn học, ngó một nhà sư trẻ viết hai câu thơ chữ Hán lên bảng. Một người bước lên bục, viết tiếp hai câu thơ chữ Hán thành một bài tứ tuyệt, buông phấn cười... Da mặt trắng xanh, thân khoác một áo veste màu ngà, gầy như như một cành thu. Tôi vốn phục người xưa "xuất khẩu thành thi", nay được thấy tận mắt có người "xổ thơ" như thế, thích chí quá. Người ta nói: "Vũ Hoàng Chương đó!". Chính biến 1963 vừa bùng nổ. Phật giáo xuống đường... 

Bẵng đi ít năm sau, ông thầy Việt văn lớp tôi lại chính là nhà thơ đó. Không hiểu sao, tôi nhớ mãi lời giảng của thầy về hai cặp chữ "phong trào" và "hi sinh". Phong là gió, trào là sóng, cái gì đó dâng cao rồi lắng xuống, như thời thượng, thời trang. Hi sinh là như những con dê bị thọc huyết thí mạng trên bàn lễ tế thần. Tôi còn nhớ học được ở thầy hai câu ca dao: 
Làm trai biết đánh tổ tôm, 
Uông trà Mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều. 

Tổ tôm, tôi không biết chơi làm sao. Đến nay, tôi cũng chưa biết hương vị trà Mạn hảo. Còn truyện Kiều, hồi đó bị bắt buộc học, tôi ngán như cơm nếp nát. 

Một lần, đề luận ra phải bình giải bài từ khúc "Tống biệt" của Tản Đà: 
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai 
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi 
 Nửa năm tiên cảnh 
Một bước trần ai... 

Tôi cặm cụi chắp đầu chắp đuôi viết cho đủ bốn trang giấy học trò. Thầy chỉ khoanh vòng một câu viết ngắn trong bài "người đọc cảm thấy một nỗi buồn man mác..." và cho 12 điểm. Số điểm khá tốt cho một bài văn. 

Trong lớp học, học trò chen chúc như trong một cái chợ con, con gái học để đi kiếm cơm, con trai học để khoan đi lính. Đôi khi, tôi có cảm tưởng chỉ có mình tôi nghe giảng, thấy thương thầy vô hạn. 

Dần dà, tôi đọc thơ Vũ Hoàng Chương và say mê những bản tình ca hoài Tố: 
Em ơi, lửa tắt bình khô rượu 
Đời vắng em rồi, say với ai? 

Đôi khi cao hứng, tôi nghêu ngao mấy câu thơ này: 
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa 
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh 
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị 
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh 

Tôi cũng ưa nhưng câu rất lạ như: 
Ta có là Ta chăng? 
Hề, Ai chứ là Ngươi... 


Sau năm 1975, được tin Vũ Hoàng Chương chết trong tù, tôi hiểu thế nào là kẻ Sĩ. 

Ở xứ người, còn chăng là vài câu thơ đơn giản của Vũ rớt lại trong hồn: 
Ba kiếp lang thang ngồi chụm lại 
Chúng ta mất hết chỉ còn nhau 

Cuối năm, tình cờ đọc hai chữ tưởng niệm, tôi bỗng nhớ người thầy thi sĩ. Vũ của Hoàng ơi, Tố ở đâu? 


ĐTK 
Paris, 05/01/1994 



bổ túc
ed. 2023-05-24

1. Mai Thảo, Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương, trong tập Chân Dung, NXB Văn Khoa 1985:
(...) Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối của thi sĩ, không ai có được những chi tiết đầy đủ. Kể cả chị Đinh Hùng, chị Vũ Hoàng Chương, cháu Vũ Hoàng Tuân, cháu Đinh Hoài Ngọc, những người đêm ngày ở cạnh chỗ nằm của ông suốt 5 ngày hấp hối. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, thần trí Vũ Hoàng Chương vẫn cực kỳ minh mẫn sáng suốt. Tới đêm lâm chung. Tới phút từ trần. Nhưng thi sĩ không nói, không nói một lời nào về bốn tháng Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Tưởng ông đi, chị Vũ Hoàng Chương lớn tiếng kêu khóc. Ông dịu dàng: “Tôi còn sống đây.” Rồi nói đùa: “Bị bắt vẫn còn oai. Được thủ tướng hầu hạ.” Thủ tướng đây là bác sĩ Phan Huy Quát, ở cạnh phòng ông, phòng tối số 6. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại đau đớn hết một lúc. Thấy vậy chị Vũ Hoàng Chương lo lắng hỏi: “Ở trong ngục anh có bị chúng hành hạ gì không?” Ông trả lời: “Chúng cần gì hành hạ. Chỉ bỏ đói là đủ cho mình chết.” Vậy thôi. Ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, Gác Bút yên tĩnh với thi sĩ nằm đó, trên mặt sàn hiu quạnh. Rồi ngày hết, đêm xuống. Và định mệnh mở rộng cánh tay như một lớp sóng mênh mông vô tận đón ông vào đời đời lúc đó là vừa đúng 12 giờ đêm…!

2. Bài thơ Trong Khám Chí Hòa của Vũ Hoàng Chương vào năm 1976:
“Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
Đêm về giấc ngủ lại thương con.
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
Hồ dễ gì phai được tấc son!”

3. Ngâm thơ "Phương Xa" của Vũ Hoàng Chương

tham khảo

Vương Trùng Dương









Thursday, January 3, 2019

chiếc lá bàng


Có hai đoản văn viết về lá bàng mà tôi rất thích. Một bài của Nhất Linh, trong lời tựa cuốn tiểu thuyết Đôi bạn. Một bài của Quách Tấn, viết theo lối địa dư chí.

Bài của Nhất Linh tôi đọc năm đệ Thất (tức lớp Bảy kể từ năm 1975). Trên một đường phố Hà Nội, một đêm cuối thu, có hai đứa bé một gái một trai đứng vỉa hè đợi gió lên để chạy ra đường lượm từng chiếc lá bàng đem về bán cho người ta sưởi ấm mùa đông. Trời lạnh buốt, một chị một em mặc áo rách, có lẽ thiếu ăn nữa,  đứng run rẩy, mà vẫn cầu xin: "Lạy trời, gió nữa lên, gió nữa lên!"

Bài văn ấy, tôi đọc lâu rồi, vang bóng chàng trai cách mạng trong tiểu thuyết đã nhạt mờ trong trí tưởng, nhưng hình ảnh hai đứa bé nhà nghèo nhặt lá bàng vẫn còn ghi rõ trong tôi.

Bài của Quách Tấn tả lại một con đường thành phố miền Trung, có hai hàng cây bàng đỏ như pháo mùa xuân. Tôi ao ước, nhưng chưa bao giờ thấy được...

Hôm nay, tôi vụt nhớ lại một kỷ niệm thời thơ ấu. Năm đó tôi học lớp tư tiểu học, một hôm đứa anh họ cùng lớp bỗng giúi vào tay tôi một chiếc lá to bản, nửa xanh nửa vàng. Thì ra, đó là giờ học Thường thức, học trò đang theo nhau lên bàn thầy nộp lá bàng lấy điểm. Tôi lơ đãng đã quên. Nhờ chiếc lá đứa anh cho, tôi được 7 điểm trên 10 — thiệt ngon lành. Tôi mơ hồ thắc mắc tại sao đứa anh họ của tôi không làm như mọi người. Hình như nó mang mặc cảm bị thầy ghét bỏ. Ngồi cùng bàn học, tôi có lần xem vở của nó viết chữ lí nhí như kiến bò, có một hàng chữ đỏ phê chéo ngang trang giấy như sau: "Bẩn! Đã dốt lại lười." Như một lằn roi trên lưng đứa bé học trò. Nó bảo tôi: "Tao viết chữ nhỏ để đỡ tốn tiền mua vở cho mẹ tao."

Chính với thằng anh họ đó mà tôi học được cách làm diều, thả bay phất phới trên bờ sông xóm Cầu Mới Sài Gòn. Mấy chục năm qua rồi, người anh họ kia nay đã lưu lạc phương nào?

Chớp mắt ngàn thu quạnh
Về đâu chiếc lá bay...

(Quách Tấn).





Phụ lục

Nhặt Lá Bàng
Lời tựa: Đôi Bạn - Nhất Linh (1906-1963)

Ở ngoài, có lẽ gió thổi mạnh hơn vì tôi nghe tiếng lá bàng rụng trên đường mau hơn.
— Gió lên ... gió nữa lên.
Tiếng nói của một đứa bé, và tiếng cười giòn tiếp theo làm tôi ngạc nhiên. Tôi viết nốt một đoạn rồi chạy ra cửa sổ nhìn xuống, nhưng không nom thấy rõ, chỉ thấy bóng chấn song và bóng người tôi in trên đường nhựa.
Tôi vội tắt đèn trong phòng đi.
Trên đường khô ráo, tôi ngạc nhiên không thấy chiếc lá rụng nào. Tôi vẫn biết có những người đi nhặt lá khô bán lấy tiền; họ chờ đợi rồi hôm nào lá đã chín lại có gió to, họ đem rổ, đem thúng, lũ bảy lũ ba chia nhau các phố tới tấp quét lượm. Ban ngày tôi đã nhiều lần nhìn ngắm cảnh tượng đó. Nhưng tôi không ngờ đâu, đêm khua lạnh, họ ngồi ở ngoài gió để chờ nhặt từng cái lá một. Tôi cũng đứng lặng yên ở của sổ đợi cơn gió đến.
Lại có tiếng lúc nãy nói:
— Lại ngồi sau gốc cây này khuất gió đỡ lạnh.
Một tiếng khác trả lời:
— Lạnh chẳng tại gió, làm gì có gió lúc này.
— Khi nào có gió thì lạnh ghê.
— Chuyện; không có gió thì lá đã không rụng ...
Yên lặng một lúc lâu, rồi có tiếng tức bực:
— Mãi không có gió.
Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy ra. Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi; đầu nó chít một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má; áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại. Một con bé, ở sau gốc cây bàng khác cũng chạy ra, rồi hai chị em — tôi đoán là hai chị em — chạy lăng quăng đuổi những lá bàng gió thổi lăn trên đường.
Một cơn gió mạnh nổi lên. Lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.
— Mau lên chị ơi, nhặt cả hai tay chị ạ.
— Tao bảo mày đem chổi đi, mày lại bỏ quên. Thằng nỡm. Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Thằng nỡm, mày chẳng nghe tao bao giờ. ... Thằng nỡm.
Tôi mỉm cười vì sao chị không mang chổi đi. Tôi mỉm cười vì con bé mắng một cách thông thạo lắm: lúc mắng nó lại tỏ ra vẻ người lớn đã biết mắng em, dạy em rồi. Đứa bé không để ý đến lời chị nó, vừa nhặt vừa reo.
— Gió lên ... lạy giời gió nữa lên
Chúng vẫn nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt; nhiều khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy hai cái bóng đen lăng quăng. Chúng chạy vụt ra xa rồi lại quay vòng trở lại, có khi đường chạy về một phiá bỗng nhiên đứng dừng: một đám lá rơi loả toả trên người chúng khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.
— Lạnh quá.
— Chạy mau lên cho ấm ... thằng nỡm.
Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm, tôi mỉm cười đoán có lẽ tên đứa bé là thằng Nỡm chăng. Tôi tự nhiên cũng thấy vui với chúng và mặc dầu trời rét tôi cũng mong mỏi gió thổi thật mạnh. Mỗi lần cơn gió tới làm rụng lá, là mỗi lần tôi hồi hộp và sung sướng một cách thành thực.
Nhưng chỉ có gió một lúc rồi tạnh hẳn. Thỉnh thoảng còn thưa thớt một hai chiếc lá rơi. Lá trên đường chúng nhặt đã hết.
— Em được tám bó.
— Tao được năm bó. Tại mày tranh lấy hết của tao, thằng ranh con.
Tôi lại mỉm cười vui vẻ vì thằng nỡm đã đổi ra thằng ranh con.
Rồi chúng lại về ngồi chỗ cũ, mỗi đứa một gốc bàng, cho "khuất gió", khuất những cơn gió làm cho chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi lên.
Tôi quay trở vào, bật đèn rồi lại ngồi vào bàn giấy viết tiếp, trong lòng tự nhiên thấy đỡ chán nản. Ở ngoài, thỉnh thoảng có tiếng của đứa bé:
— Gió lên ... lạy giời gió lên

oOo

Trời sáng rõ lúc nào tôi không để ý. Ánh nắng lấp lánh trên những lá bàng như sơn son. Tồi nhìn xuống đường. Hai đứa bé còn đứng đó. đướng buộc mấy gánh lá bàng nhặt được đêm qua. Chúng vui vẻ, nhưng tôi không thể dựa theo nét mặt chúng mà đoán được chừng ấy lá là nhiều hay ít.
Một người đi qua nhìn gánh lá bàng nói:
— Lá bàng này sưởi ấm lắm đấy.
Tôi quay lại nhìn lên bàn; suốt đêm tôi mới viết được lèo tèo vài trang giấy, lại dập dập, xóa xóa gần nửa. Tôi thất vọng.
Đối với tôi, những cơn gió tôi chờ đón đã nổi lên, đã khiến tôi đêm qua lạnh cả tâm hồn, nhưng lá bàng nhặt được không là bao. Lại không biết có ấm được lòng ai ở xa không?


ed 2023-02-08





Tuesday, June 5, 2018

Paris lang thang



1. Ile Saint-Louis

Dưới cầu sông chảy
Trên trời mây bay
Ai về có nhớ
Thuyền nắng ngủ say


photo @dtk 2005












2. boulevard du Palais (đường Nguyễn Du)

Trưa đi bát phố
Đường êm ái này
Tưởng về lối cũ
Có lá me bay

3. boulevard Saint-Michel

Xưa tôi với bạn
Mỗi tối đi hoang
Lòng trai trống vắng
Vì thiếu cô nàng

4. Notre-Dame

Nhà thờ Đức Bà
Con tim ấp ủ
Dù đã quá xa
Mối tình rất cũ


photo @dtk 2018











5. Hàn Lâm viện

Qua viện Hàn Lâm
Học sĩ cao thâm
Ngày hè nắng ấm
Cùng mây thì thầm

6. Musée du Louvre

Mây trắng bay qua
Từ bao thế kỷ
Monna Lisa
Đâu rồi họa sĩ

photo @dtk 2005


 








7. Panthéon

Vĩ nhân nước Pháp
Tên tuổi ghi đây
Còn ta lơ đãng
Mắt ngó mây bay


photo @dtk 2018


 








8.  vườn Tuileries

Theo mây lang thang
Nắng hạ chói chang
Qua vườn bóng mát
Người ơi địa đàng


photo @dtk 2005









ed 01 
2005, tháng 7

ghi chú 03/03/2023:
vừa tìm lại được trên http://forum.siliconband.fr
ngày viết mấy bài con cóc ở trên: 27.07.2005












Thursday, April 26, 2018

la cause du peuple


Nhà nghiên cứu lịch sử Thierry Wolton (người Pháp) vừa xuất bản bộ sách 3 quyển Une histoire mondiale du communisme (Grasset, 1180 p., 39 €).

Tạp chí Le Point số 2381, ra ngày 19 avril 2018, có bài phỏng vấn tác giả Thierry Wolton, nhan đề: 50 millions de morts, et tous "complices" ? (tạm dịch: 50 triệu người chết, và tất cả đều là "đồng lõa"?).

"Complices" cũng là nhan đề quyển thứ ba trong bộ sách nói trên, xuất bản năm nay (2018), được trao giải thưởng văn chương "Ngày nay" (prix Aujourd'hui).
 

Tấm hình in đầu bài báo đập ngay vào mắt:

Cặp Sartre-Beauvoir bán báo "La Cause du peuple"
trên đường phố Paris, năm 1970
Vụt nhớ lại kỉ niệm gần 50 năm về trước, khi vừa chân ướt chân ráo tới Pháp.

Hôm đó, bước xuống chiếc xe car (du lịch vùng Bretagne-Normandie, do bộ
Văn hóa Giáo dục Pháp tổ chức), tôi ngạc nhiên  thấy một anh bạn sang du học cùng năm (même promotion) với tôi, tay ôm chồng báo, miệng rao không ngớt: "La Cause du peuple ! S'il vous plaît ! Achetez La Cause du peuple !"

Dáng điệu y hệt như tấm hình trên đây, với triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre đang bán báo trên đường phố Paris.
 

Nhiều khi tôi nghĩ rằng tai họa giáng xuống quê hương chỉ là tại những tên khờ có ích (idiots utiles) như những Jean-Paul Sartre (1) kia thôi.

Thierry Wolton xác nhận rằng nước Pháp vốn là "vô địch thế giới" về "tính đồng lõa" với ý thức hệ Cộng Sản ("pays champion toutes catégories en matière de complicité avec les communistes").

Bao nhiêu những nhà trí thức (Jean-Paul Sartre...), báo chí (Le Monde...), kí giả (Jean Lacouture...), nghiệp đoàn thợ thuyền (CGT...), tổ chức sinh viên, nhà giáo..., trong suốt nửa sau thế kỉ XX, đua nhau tranh đấu chống "đế quốc Mĩ", biểu tình phản chiến..., đồng thời vẫn tuyên truyền hỗ trợ cho Mặt Trận Giải Phóng xâm chiếm Miền Nam Việt Nam ("Front National de Libération vaincra").

Mặc bao sự thật "trắng trợn" về "thiên đường Cộng Sản" (Printemps de Prague, goulags,  sự sụp đổ của Liên Xô và ở Đông Âu, biến cố Thiên An Môn ở Bắc Kinh...), người ta vẫn tiếp tục hoan hô đả đảo một chiều theo tư tưởng Mác-Lê.

Trong một bối cảnh như vậy, nghĩ cho cùng, những hành vi cư xử của bạn tôi ở trên có lẽ cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Mà họ đông lắm, chín phần mười bạn bè tôi bên Pháp này đều chạy theo nhau xuống vực như những con cừu của Panurge ngày xưa (François Rabelais).

Có thể nào ngờ, ngay sau biến cố 30 tháng Tư 1975, những người ấy từ miền Nam (Việt Nam cũ) sang Pháp, bỗng đua nhau dán lên tường phòng khách trong nhà bích chương to tướng chân dung Hồ Chí Minh.

Rồi họ (bây giờ đã trở thành những giáo sư, kĩ sư, bác sĩ, dược sĩ...) tấp nập đi hội họp ở Paris cho những chương trình chính trị kinh tế hấp dẫn (do Nhà nước Hà Nội giựt dây) kiểu "Chân trời 80", "Chân trời 90"...

Thierry Wolton nói: Lí thuyết cộng sản theo ý thức hệ mác-lênin nay đã chết.

Trong khoảng hơn mười năm cuối thế kỉ XX, chế độ Liên Xô đã sụp đổ hoàn toàn. Các nước Đông Âu, lệ thuộc khối Liên Xô cũ, cũng đã chuyển sang thể chế dân chủ.

Trung Quốc Lục Địa (và đàn em của họ: Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa) bây giờ đã biến thái thành những thể chế độc tài độc đảng phát triển theo khuynh hướng kinh tế thị trường, nhưng vẫn nằm trong vòng kiểm soát của Nhà nước đặc quyền đặc lợi.

Một số những tên khờ có ích (cho Nhà nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, chẳng hạn) hình như cũng sáng mắt ra một chút...




Chú thích

(1) Le Point, 2019-08-29: Sartre… « Grand écrivain, philosophe moyen, politique nul »  (Edgar Morin
Tạm dịch: 
(Jean-Paul) Sartre... "Nhà văn cỡ lớn, triết gia bậc thường, chính trị gia hạng bét." (Edgar Morin).






Phụ lục


2018/04/28 md@huediepchi.com (Seattle, USA)

Xin mạn phép chị md@huediepchi.com đăng lại dưới đây bài viết của chị nhân ngày 30 tháng Tư 2018

Nhớ Nhớ Gì...


Saturday, April 28, 2018 11:08:59 PM

Hôm nay là ngày 28 tháng 4 ở VN, ngày này 36 năm trước, md@hdc mặc cái áo bà ba nâu, quần đen, chân đi dép nhựa, nón lá, tay cầm cái túi lác lên đường...

Ăn mặc cho thành gái quê cũng không giống quê vì cái mặt md@hdc tí tửng (sắp được giải thoát) và sáng láng quá. Đó là do sự cố vấn của ông Anh để md@hdc hoà đồng cùng các cô vùng "muỗi kêu mà như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh".

Đến Rạch Giá được một anh chàng cũng trạc tuổi md@hdc đón về cư xá ngủ đế sáng mai, ra bến đò đi về miệt thứ. Tối đó anh chàng dẫn đường đưa md@hdc ra phố đi dạo ra vẻ như có bạn gái từ Sài Gòn về thăm. He mắng md@hdc là ăn mặc không giống ai, vì cái mặt rặt tỉnh thành, mà... con gái quê cũng không ăn mặc dị hợm... quê như vậy.

Sáng hôm sau ở bến đò Rạch Giá, được ăn một bữa cơm toàn những món nhìn rất quen, mà trước đó md@hdc chưa ăn bao giờ. Canh khổ qua nhồi thịt và dưa rau muống. Thật là ngon miệng. Sau đó md@hdc được đưa bằng xuồng "tắc ráng" về Thứ 6.

Nằm dưới đống lưới cá hôi hám và lỉnh kỉnh đồ đạc từ trưa đến đêm tối mới về tới gần chỗ đổ quân. Lúc leo lên bờ thì cái đầu vẫn cứ lắc lư chòng chành chân thấp chân cao bước đại chứ không định vị được mặt đất.

Tối đó md@hdc trốn trong vựa lúa ở một góc nhà. Muỗi bu chích quá trời vậy mà chủ nhà khách khứa 2,3 lượt. Ngứa không được gãi thật khổ, lúc đó mới thấy được ý nghĩa của câu thành ngữ “gãi đúng chỗ ngứa”.

Đúng như quẻ xâm md@hdc lấy được hôm tết “đất khách ngộ cố tri”. Đi lần đó là md@hdc thoát. Đến Thái Lan thì gặp cả tá cố tri biết danh nhau từ trường Đại học Bách khoa.

Sau này qua Mỹ định cư, đi học rồi đi làm đã mấy năm rồi, mà lâu lâu cơn ác mộng đang tìm đường vượt biên vẫn trở lại ám ảnh trong giấc ngủ.
 

On Sun, Apr 29, 2018, 04:30 md@hdc

Chuyện thật về chuyến đi của md@hdc đó (...). Chính xác thì lúc mua vé xe đò đi Rạch Giá, md@hdc còn bị một bà bán vé chợ đen truy hô là đi vượt biên mà còn trả giá, đòi gọi công an. md@hdc nói lại bả là buôn bán lậu mà đòi đi gặp công an. Lúc đó công an chẳng có cớ gì để bắt md@hdc... nên bả không sợ công an thì thôi chứ md@hdc mắc gì mà sợ bả. Sống ở VN thời đó ngoài mưu mô, trí trá người ta còn phải chà đạp lên nhau để dành phần, không phải chỉ riêng những kẻ có quyền hành. Mà còn lắm kẻ bần cùng sinh đạo tặc nữa. Thật tuyệt vọng.

Mỗi lần đọc ba cái bài viết kiểu "quê hương đổi mới rồi, bạn phải làm gì cho quê mẹ" thì chuyện cũ lại tràn về.
md@hdc không cần tiền thêm, cũng chẳng cần danh. Không nhậu nhẹt bốc phét, chui vào rọ để làm gì cho khổ. Những đóng góp để change the world thì md@hdc đã làm xong rồi, giờ thì chỉ làm những chuyện vụn vặt cho vui qua ngày tháng mà thôi.


***


2020/06/15 mt@hdc.com (Köln, Deutschland)

from: mt@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 16:43
subject: Re: bóng ngày qua: la cause du peuple

Thời gian trôi đi nhanh thật. Ngày đó gia đình M.T. được tàu Cap Anamur I vớt.


Tàu gia đình M.T. đi có 213 người. Sau đó ở 2 tháng tại Singapur rồi 6 tháng ở đảo Galang (Indonesia).
Cuối cùng đến Jakarta, ở 1 tuần để làm thủ tục qua Đức.
(...)

from: d-tk@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 16:56

Hình tàu "Cap Anamur I" có gia đình anh M.T. trên đó không?
Năm đó, chính xác là năm nào?

from: mt@hdc.com
date: 15 Jun 2020, 17:46

Chiếc tàu đánh cá đó có gia đình M.T. 
Lúc rời bến, tài công đòi thêm tiền, không cho thêm, nó bỏ lên bờ không lái tàu. Nên ba M.T. lái tàu một mình ra khỏi Việt Nam, — mặc dù ba M.T. là bác sĩ quân y thời Việt Nam Cộng Hòa.
Đi được 3 ngày, bị bão lớn, máy bơm nước bị hư, nhưng nhờ Cap Anamur thấy và tới cứu (09.03.1980).
Hình chiếc tàu (Cf. ở trên) do nhân viên Cap Anamur chụp để làm tài liệu. M.T. ngồi trên nóc chiếc tàu trước khi tàu cặp vào Cap Anamur.
Port de lumière là tiền thân của Cap Anamur. 
(Gia đình M.T.) tổ chức vượt biên hơn 3 năm rồi mới thành công rời Việt Nam.






Monday, April 16, 2018

anh cho em mùa xuân...


Hình icon lịch trên máy hiện rõ hai chữ tháng Tư! Nhưng mùa xuân năm nay ưởng ưởng không muốn về.

Qua vườn Bách Thảo (Jardin des Plantes) xem mấy cây anh đào Nhật bắt đầu nở rộ. Ở nước Pháp này, không có hội hoa anh đào như bên Nhật. Nhìn người ta thong dong qua lại trong vườn, đứng lại ngắm nghía, chụp hình... những cây anh đào đầy hoa, thấy mình lạc chốn Bồng Lai.

photo @dtk 2018


Trong lòng bỗng nhói lên một cái. Có phải vì mấy câu chuyện kể trong tờ báo Xuân 2018 Bưởi-Chu Văn An (California, USA)?  

50 năm rồi! mùa xuân ấy!

Đọc bài của một bác sĩ quân y kể lại những ngày tù cải tạo, những câu văn dí dỏm, những cảnh ngộ oái oăm... Không thể nói "cười ra nước mắt". Dân ta gặp phải một lũ quỷ điên.

Có thể nào ngờ, trong cùng một ngày — khoảng thời gian ấy, tôi ngồi đọc cuốn sách "Đại Thắng Mùa Xuân"!

Nhớ lại bài hát "Mùa Xuân Đầu Tiên" (1976)...

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu...


Có ai biết là mùa xuân nào, hở nhạc sĩ Văn Cao?


Ngày xưa...


(còn tiếp)



2020/05/17 ed.

Hôm nay tìm được câu trả lời của nhạc sĩ Văn Cao (cf. FaceBook Từ Thức TT GROUP)
Lời tâm sự của ông còn hơn vạn lời dối trá, mị dân vẫn thường nhai nhải suốt 75 năm nay. Hãy mở to mắt, tim đừng run, trí phải lạnh... để nhận ra tất cả đằng sau số phận một bài hát, số phận hẩm hiu của 1 dân tộc.
"..Hồi nhận viết Tiến Quân Ca tôi không hề chuẩn bị trước để làm một bài hát mà một nhiệm vụ nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viên biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu súng vào một thành phố để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh và căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy. Thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng và chỉ viết nhạc không lời."
Văn Cao







Phụ lục

Kim Tuấn
Anh Cho Em Mùa Xuân - nhạc Nguyễn Hiền - Duy Quang hát
 


Nụ Hoa Vàng Cho Em

anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây

anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
thơ còn thương cõi đời
con chim mừng ríu rít
vui khói chiều chơi vơi

đất mẹ gầy cỏ lúa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mỏ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa
tóc mẹ gìa mây bạc
trăng chờ sau liếp dừa
con sông dài mấy nhánh
cát trắng bờ quê xưa...

anh cho em mùa xuân
bàn tay thơm sữa ngọt
dải đất hiền chim hót
người yêu nhau trọn đời
mái nhà ai mới lợp
trẻ đùa vui nơi nơi
hết buồn mưa phố nhỏ
hẹn cho nhau cuộc đời
khi hoa vàng sắp nở
trời sắp sang mùa xuân
anh cho em tất cả
tình yêu non nước này
bài thơ còn xao xuyến
nắng vàng trên ngọn cây...
http://vietnamtudien.org/thophonhac/nuhoavg_kt.html
















Saturday, August 5, 2017

mất quê hương



Hôm đó, vợ chồng tôi đang ngồi trong quán ăn Au Vieux Saigon, avenue d'Ivry quận 13 Paris. Chợt có một cặp già nhỏ nhắn lại ngay bàn bên cạnh. Nhà tôi bỗng nhìn đăm đăm người đàn bà lớn tuổi, rồi ngập ngừng nói: — Dạ, có phải là chị Thu Tâm không ạ?

Người đàn bà khựng lại nhìn nhà tôi, và rồi tỏ vẻ nhận ra nhau.

Từ nhiều năm qua, nhà tôi hay nhắc đến những kỉ niệm thời học trò ở Saigon. Vào những năm cuối trung học đệ nhất cấp ở trường Regina Pacis, ở trọ nhà cô bạn con gái nhạc sĩ Bửu Lộc, nổi tiếng trên Đài Phát Thanh Saigon. Và nhờ đó quen biết ca sĩ Thu Tâm. Chị Thu Tâm thỉnh thoảng làm ca sĩ trong những buổi tối ca nhạc tổ chức tại nhà riêng của nhà đàn tranh Bửu Lộc, trong một ngõ hẻm trên đường Phan Thanh Giản. Khách tham dự thường là mấy tướng tá người Huế.

Người đi kèm chị Thu Tâm trong tiệm ăn hôm đó lại chính là Lê Văn Hảo.


Mấy hôm sau, cặp Thu Tâm - Lê Văn Hảo nhận lời đến thăm chúng tôi. Vào nhà tay bắt mặt mừng. Một cách rất tự nhiên, bốn người xếp thành hai cặp nói chuyện với nhau: chị Thu Tâm và nhà tôi tạo thành một cặp, Lê Văn Hảo và tôi thành cặp thứ hai.

Hai người đàn bà huyên thiên nói gì với nhau, sau lần gặp mặt đó nhà tôi mới kể lại một phần cho tôi biết. Riêng cặp Lê Văn Hảo và tôi, thì Lê Văn Hảo nói nhiều hơn và tôi gần như chỉ lắng nghe.

Không ai bảo ai, đề tài nói chuyện xoay quanh "trường hợp Lê Văn Hảo" trong vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế. Tôi chỉ đọc lần đầu tiên đến cái tên Lê Văn Hảo, trong cuốn tiểu thuyết hồi kí Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca. Lê Văn Hảo lặp lại nhiều lần: "Họ đã bombardé tôi vào chức đó, chứ nào tôi có muốn làm."

Cái chức vụ mà Lê Văn Hảo nói đến ở đây, chính là chức "Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế" khi quân cộng sản Bắc Việt tấn công Huế năm Mậu Thân 1968. Lê Văn Hảo trầm giọng kể cho tôi nghe kỉ niệm xưa. Hồi đó, quân đội Pháp cưỡng chiếm nhà cha mẹ ông làm tổng hành dinh.

Thế mà ông lại say mê cô con gái của viên sĩ quan trưởng đóng tại nhà.

Rồi một đêm, người mẹ của Lê Văn Hảo nhảy xuống giếng trong vườn. Để lại mấy lời trăn trối: Mẹ đau quá con ơi, đau không chịu nổi... Ông Lê Văn Hảo nói mẹ ông bị bệnh ung thư tử cung. Ông ấy còn nhắc lại lời mẹ bắt ông phải hứa không bao giờ lấy đầm làm vợ. Vừa kể ông ấy vừa rơm rớm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng.

Thế rồi câu chuyện chuyển sang thời kì Lê Văn Hảo được đưa về Bắc. Cả mười năm trời, không phải làm gì hết, lại được nuôi cho đi thăm viếng khắp các miền non nước.

Ông ấy đem một tập giấy hơn hai chục trang chụp photocopie từ những bài đăng trên báo Thông Luận ở Paris khoảng năm 2007, cùng với lời viết tay nắn nót trên bìa cứng: 


Lê Văn Hảo
Tiến sĩ Dân tộc học, nguyên hội viên Société Asiatique de Paris
MẤY NÉT VIỆT NAM ĐẸP TƯƠI MUÔN THUỞ
Bản riêng tặng cô R. & anh K.
L.V.H. và Thu Tâm
Mùa Xuân tháng 3/2009

Hôm đó, Lê Văn Hảo nói ước vọng của ông hoàn thành tác phẩm, dày khoảng 800 trang.

Chỉ cần đọc nhan đề 13 bài viết trên đây là đủ nhớ da diết quê hương nghìn dặm:




Bản đồ Việt Nam
Mũi Cà Mau
Chòm Lũng Cú
Ao Bà Om
Hương Sơn - Chùa Hương
Hòn Non Nước
Nha Trang
Đà Lạt
Vũng Tàu
Yên Tử
Vườn Chim, Sân Chim, Tràm Chim
Lời cảm ơn của tác giả
Cùng một tác giả (danh mục tác phẩm)

Tôi đã đọc mấy bài này, rất thú vị. Lời văn trong sáng, đượm tình yêu nước non dân tộc.

Không nhớ trong hoàn cảnh nào, chúng tôi bốn người đứng trong sân siêu thị Thanh Bình Jeunes ở gần Porte de Choisy. Siêu thị này là của một người trong nước làm chủ. Theo một người bạn học cùng trường xưa ở Việt Nam, người chủ này là họ hàng với tiệm Thanh Bình kì cựu ở Place Maubert Paris từ mấy chục năm về trước. Trước 1975, hầu như dân Việt cả nước Pháp và cả Âu châu đều về đây mua thức ăn rau trái Việt Nam. Sau 1975, cửa tiệm này thất thế dần dần vì bị các siêu thị lớn của người Tàu (Tang Frères, Paris Store, ...) đè bẹp. Riêng siêu thị Thanh Bình Jeunes này chuyên bán các thực phẩm đem từ Việt Nam sang (thay vì phần lớn nhập cảng từ Thái Lan như các siêu thị của người Tàu), và đặc biệt còn có mấy ngăn hàng bán sách báo Việt Nam in trong nước.
 

Lúc đó, tôi hơi ngạc nhiên thấy Lê Văn Hảo đến trò chuyện với một người Pháp, khoảng 40-50 tuổi, rõ ràng mang dáng dấp của một SDF (sans domicile fixe) như người Pháp nói bây giờ, tức là một loại clochard truyền thống ở Paris ngày xưa: áo quần xốc xếch, hai gò má lộ ra những tia máu đỏ của những người nghiện rượu. Trông thái độ hai người như thầy trò với nhau. Điều tôi lấy làm lạ, người Pháp này nói được tiếng Việt khá sỏi. Anh ta bảo với tôi rằng trong siêu thị đang bày bán mấy tạp chí có bài của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hóa ra, cứ mãi quanh quẩn với mấy nhân vật trí thức ngày xưa: Trịnh Công Sơn, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, v.v.

Mấy hôm nay, tôi tìm được trên Internet mấy bài phỏng vấn Lê Văn Hảo và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Cả hai chối bai bải không chịu nhận có dây dưa gì trong cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Cả hai nói, khi đó họ đều ở trên núi, không hề tham gia quyết định trong trận chiến. Họ quá lắm chỉ tự coi là bù nhìn.

Năm 1996, lần đầu tiên về thăm quê hương sau biến cố 1975, tôi ra xem hai tiệm sách lớn ở Saigon đường Nguyễn Huệ và đường Tự Do (cũ), chỉ rặt thấy bán những sách: hồi kí của Trần Văn Khê, nhạc của Trịnh Công Sơn, tiểu thuyết của Sơn Nam, sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngoài ra, còn có một số sách của Nguyễn Hiến Lê. Nói tóm lại, đều là những người được chế độ mới ưu đãi.

Gần như cả cuộc đời trên mặt đất tôi chỉ là một kẻ mất quê hương.

Từ mấy chục năm nay, tôi chỉ có một câu hỏi quay quắt trong đầu:

Một cá nhân Hồ Chí Minh, xảo quyệt dường nào đi nữa, nếu không có những bộ hạ, và nhất là những tay "trí thức" loại "trung lập", "chủ hòa" hoặc "thành phần thứ ba", cộng với sự hỗ trợ đắc lực của hàng triệu những bác sĩ, giáo sư, thi sĩ, kĩ sư, tu sĩ... —những "tên khờ có ích" (idiots utiles), thì làm sao có thể đưa đẩy đất nước và dân tộc Việt Nam vào con đường vô vọng ngày nay?








Saturday, February 11, 2017

người hẹn cùng ta



Mấy hôm nay, trên diễn đàn @huediepchi, các bạn bàn nhiều về Đà Lạt, lại biết  tin chị md@hdc bệnh (do ô nhiễm ở Saigon thì phải), rồi nghe chị kể chuyện âm binh, làm tôi nhớ lại nhiều kỉ niệm xưa, đến nỗi đêm qua nằm mơ, một cơn ác mộng, giật mình thức giấc, lúc ba giờ sáng, trống ngực còn đập thình thình.

Tôi thấy tôi đang ở Đà Lạt, bị công an tịch thu hộ chiếu, dẫn đi trong mấy hành lang âm u như địa ngục. Chợt một lúc gặp đúng cậu Nghị (em ruột mẹ tôi) đi ngang qua đó. Cậu hình như là một sĩ quan cao cấp, dõng dạc ra lệnh cho thả tôi ra lập tức, cùng một người khác bị bắt như tôi. Tôi nghe hô rất rõ tên người ấy, nhưng bây giờ quên mất rồi. Lúc hai người đứng đợi thủ tục giấy tờ, thì tôi giật mình thức giấc, trống ngực còn đập thình thình.

Cậu Nghị tôi đến ở trọ nhà bố mẹ tôi ở Đà Lạt ngay sau ít ngày gia đình tôi rời Hà Nội vào Nam (1954). Cậu tôi hồi đó là lính trong Ngự Lâm Quân của cựu hoàng Bảo Đại, đóng trại ở gần dinh vua, nếu tôi nhớ không lầm. Mỗi đêm, tôi thường nghe cậu hút thuốc lá trong phòng, thở ra những vòng khói xanh huyền ảo, cùng với người bạn lính, hay hát "Hà Nội ơi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi...", hoặc bài "Trăng mờ bên suối" của Lê Mộng Nguyên. Tôi cũng chứng kiến ngày cậu quyết định lấy chuyến tàu cuối cùng trở về Hà Nội, tìm lại người vợ của mình.

Thời gian ngắn cùng ở với cậu Nghị ở Đà Lạt, anh tôi và tôi thường được dẫn đi xem ciné, ra tiệm ăn chè sen, hoặc đi về nhà theo những con đường dốc, dưới ánh trăng mờ. Thỉnh thoảng, cậu ấy hỏi vọng lại về phía sau: "Hết chưa?" Thế là tôi lại được phát cho một thỏi chocolat thơm phức.

Hôm đó, mẹ tôi chuẩn bị ballot cho cậu đi lấy chuyến tàu cuối cùng về Bắc. Tôi còn nhớ rõ khúc bánh mì dài nhét đầy lạp xưởng mà mẹ tôi xếp vào trong nải.

image Internet
Sau đó ít lâu, gia đình tôi bỏ Đà Lạt xuống Saigon. Hồi đó, tôi đang say mê sưu tầm tem quý, tìm thấy trong tủ giấy tờ của mẹ một hộp những lá thư màu xanh, dán đầy những con tem rất hiếm: Hồ Hoàn Kiếm, lăng tẩm Huế, Bảo Đại, Bảo Long, Nam Phương hoàng hậu... Dĩ nhiên là tôi đem bóc sạch những con tem đó, nhân tiện ngồi nhẩn nha đọc những bức thư mà tôi thấy nhạt như nước ốc, toàn những câu như là: Anh ơi, chúng mình không được gần nhau....

Cho đến ngày tôi sang Pháp và mãi tới sau 1975, tôi không có tin tức gì về người cậu. Rồi sau này, vào khoảng 1985, gặp lại người em vượt biển sang Mỹ, đến thăm tôi. Em cho biết, vài năm sau biến cố tháng Tư, cậu Nghị có vào Saigon, đem theo một túi gạo chừng 3 kí-lô biếu gia đình chị. Mẹ tôi nhận món quà của cậu và nói riêng với em tôi: "Hóa ra dân miền Bắc còn đói khổ hơn miền Nam từ bao năm rồi!" Vài năm sau đó, em tôi đi Hà Nội theo lời yêu cầu của mẹ, đến phố Tràng Thi — nơi có căn nhà của ông ngoại (làm nhà nhiếp ảnh ngày xưa) để lại, để tìm cậu Nghị. Khi em vào đến căn nhà, lúc đó đã bị chia năm xẻ bảy cho nhiều gia đình, bước lên thang lầu ọp ẹp, thấy ngay một cặp cụ già tóc bạc phơ, giương mắt nhìn em trừng trừng một lúc, rồi bật khóc oà. Ấy là vợ chồng cậu Nghị em tôi gặp lại ở Hà Nội vào khoảng 1975-1980. Hai người đã mất vào khoảng năm 2000.



Phụ lục






Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dải ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió ngây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ

Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi,
Biết người có nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy anh về

Một ngày mùa chinh chiến ấy,
Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay
Một ngày tả tơi hoa lá,
ngóng trông về xa ... luyến thương hình bóng qua.

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi,
Nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui
Hà Nội ơi, kiếp người muôn hướng buông trôi
Nhớ về người những đêm rơi
Nhắn theo ngàn cánh chim trời.

Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xưa,
Mắt buồn dâng những đêm mưa,
Não nùng mây gió đong đưa

Hà Nội ơi, nỗi lòng gởi gấm cho nhau,
nhớ hoài chỉ biết thương đau,
đắm say chờ những kiếp sau.

Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua,
mái trường phượng vĩ dâng hoa
nắng chiều ủ bóng tiên nga.

Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về.

Một ngày tàn hương chinh chiến,
lửa khói lắng chìm, tìm về nơi bờ bến
Một ngày hồng tươi hoa lá
Hát câu tình ca nói lên lời thiết tha

Hà Nội ơi, biết người còn có trông mong,
Hướng về ai lỡ hay không những ngày xa vắng bên sông.

Hà Nội ơi, những chiều sương gió dâng khơi
Có người lặng ngắm mây trôi,
Biết bao là nhớ tơi bời ... 




phố Tràng Thi
photo https://36hn.wordpress.com/2016/05/17/pho-trang-thi-xua/













Friday, October 14, 2016

mưa trên phố Huế


Chị TH,

Ở Âu châu đã gần sang mùa đông, nhưng hoa cúc vàng còn đang nở rộ... 

photo dtk 20xy

Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên...
 


Chàng Xuân Diệu xưa viết hai câu thơ đẹp về hoa cúc, nhưng cũng đầy tham vọng quan sang.


Nhưng bây giờ là mùa xuân bên Úc, chị TH làm tôi bỗng nhớ Huế...


Em yêu xứ Huế ngày xưa,
Nhớ chùa Thiên Mụ nhớ hồ Tịnh Tâm.
Còn đâu những buổi mưa dầm,
Em cùng chúng bạn âm thầm gội mưa...
(*)


Hôm đó, chúng tôi ở phi trường Phú Bài, đang đợi chuyến bay về Saigon. Bỗng người tài xế, cho chuyến du lịch mấy ngày qua, chạy đến đưa cho một CD có bài Mưa trên phố Huế. Có lẽ anh ấy vừa lùng khắp mấy tiệm bán dĩa nhạc trong thành phố Huế. Tôi hơi cảm động, vì hiểu anh ấy đã nghe lời tôi kể, trong lúc xe ra phi trường, tôi rất thích bài ca này, lần đầu nghe được trên thuyền bơi dạo sông Hương hôm trước.

Gửi chị TH và các bạn huediepchi@googlegroups.com 

mấy youtube nghe lại cho vui...













Chú thích

(*) Bài thơ này thuộc lòng từ thời tiểu học, hay đọc được trong báo trẻ em "Tuổi Xanh" (vào những năm 1960, 1961…), bây giờ tôi không nhớ rõ.




Phụ lục

Tác giả: Minh Kỳ & Tôn Nữ Thụy Khương
 

Ngâm thơ:

Ta nhớ ta thương... sông Hương, núi Ngự...
Mơ chốn yên bình, nhịp sống thanh tao
Ta vẫn ước ao, làm sao trở lại...
Dẫu Huế xa rời, ta mãi mến thương
Dẫu Huế u buồn, ta mãi nhớ thương...


Chiều nay mưa trên phố Huế
Kiếp giang hồ không bến đợi
Mà mưa sao vẫn rơi rơi hoài
cho lòng nhớ ai
Ngày chia tay hôm nao còn đây
Nước trên sông Hương còn đầy
Tình đã xa gió mưa u hoài
mắt lệ ngắn dài

Chiều nay trên Kinh Đô Huế
Tiếng mưa còn vương kỷ niệm
Ngày quen nhau dưới chân Thiên Mụ
anh còn nhớ không?
Chợ Đông Ba khi mình qua
Lá me bay bay là đà
Chiều thiết tha có anh bên mình
mà ngỡ hôm qua

Hò...ơi...!!! Ơi...hò...!!!
Chiều mưa phố buồn
Chiều mưa phố xưa u buồn
có ai mong đợi
Một người biền biệt nơi mô
Để nhớ với thương một người

Chiều nay mưa trên phố Huế
Biết ai đã quên ai rồi
Mà mưa sao vẫn rơi rơi đều
cho lòng u hoài
Ngày xưa mưa rơi thì sao
Bây chừ nghe mưa lại buồn
Vì tiếng mưa, tiếng mưa trong lòng
làm mình cô đơn. 



Tái bút
2016-10-16 06:08


Cám ơn bạn NĐT đã chép cho bài thơ Nguyễn Bính viết từ năm 1941 về mưa ở Huế.

Bài Giời mưa ở Huế của Nguyễn Bính

 
Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Giời mờ ngao ngán một loài mây

Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...

Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội
Bốn tháng hình như kém mấy ngày
Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh
Để rồi nằm mốc ở nơi đây

Thuốc lào hút mãi người ra khói
Thơ đọc suông tình hết cả hay
Túi rỗng nợ nần hơn Chúa Chổm
Áo quần trộm mướn, túng đồ thay

Hàng xóm có người con gái lẻ
Ý chừng duyên nợ với nhau đây
Chao ôi! Ba bốn tao ân ái
Đã đủ tan tành một kiếp trai.

Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!
Đành phụ nhau thôi, kẻo đến ngày
Khăn gói gió đưa sang xứ lạ
Ai cười cho được lúc chia tay?

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?
Mà nhớ mà thương đến thế này!

Cố nhân chẳng khoá buồng xuân lại
Vung vãi ân tình khắp đó đây
Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo
Cả đến ông giời cũng đổi thay!
Gia đình dọn cả lên Hà Nội (1)
Buôn bán loanh quanh bỏ cấy cầy
"Anh em cánh nhạn người Nam Bắc
Tâm sự hồn quyên lệ ngắn dài..."

Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Hôm qua còn sót hơn đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say
Nón lá áo tơi ra quán chợ
Trơ vơ trên bến nước sông đầy
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành, lạnh ngón tay.
Ôn lại những ngày mưa gió cũ
Những chiều quán trọ những đêm say
Người quen nhắc lại từng tên một
Kể lại từng nơi đặt dấu giày
Trôi dạt dám mong gì vấn vít
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây
Tỉ tê gợi nhớ niềm tâm sự
Cúi mặt soi gương chén rượu đầy
Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ
Đôi lòng hoà một vị chua cay
Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ
Cha mẹ chiều chiều ...con nước mây
Hoa rao bán nhuỵ tình nên vợ
Chim nửa bình minh bóng trúc gầy.
Không hiểu vì đâu hai đứa lại
Chung lưng làm một chuyến đi đầy?
Giời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày...
Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế
Quên được làm sao bữa rượu này.



Huế 1941

(1) Có bản in là "Gia đình thiên cả lên thành thị".

Tái bút
2016-10-16 21:27

Tuy nhiên, thơ Nguyễn Bính trong bài này sao mà thảm thiết quá.
Hôm qua, nghe lại bài hát nhắc đến ở trên ("Mưa trên phố Huế"), tôi chợt nhận ra là mình đã nhớ sai.
Chính ra là bài "Huế xưa". Lời ca cũng buồn đứt ruột, nhưng vẫn còn chút hi vọng vào một ngày mai tươi sáng.
Xin cài ở đây một youtube tìm được trên Internet, để nghe và nhớ.




Tái bút
2022-02-01 00:01
Thêm lời bài ca

Sáng tác: 

Anh Bằng


Tôi có người em sông Hương núi Ngự,
Ϲủa lũу tre thôn Vĩ hiền từ,
Ϲủa kinh thành cổ xưa thật xưa.
Buổi trưa em che nón lá,
Ϲá sông hương liếc nhìn ngẩn ngơ,
Lũ chim quуên ngất ngâу từ xa.
Tôi sống độc thân trong căn phố nghèo,
Bởi trót thương nên nhớ thật nhiều,
Bởi em là hạnh phúc tình уêu.
Ở bên ni qua bên nớ,
Ϲách con sông chuуến đò chẳng xa,
Nhỏ sang thăm có tôi đợi chờ.

Huế ơi! không biết bâу chừ,
Tiếng ca nào vương bên mạn thuуền,
Ϲó ai chờ ai qua Trường Tiền,
Không biết bâу chừ,
Nữ sinh mang nón bài thơ,
Để trai xứ huế mộng mơ.
Huế ơi! ta nhớ muôn đời,
Bóng trăng hồ sen trong Hoàng Thành,
Tiếng chuông từng đêm Thiên Mụ buồn,
Ta nhớ muôn đời,
Người con gái Huế quá xinh,
Tóc mâу ngang lưng trữ tình.

Non nước thần kinh quê hương đất lành,
Là trái tim sông núi của mình,
Ϲả linh hồn của dân hùng anh.
Bởi đâu gâу nên nông nỗi,
Ϲánh chim baу giữa trời lẻ loi,
Nhỏ tôi уêu không bao giờ nguôi.
Tôi đã lạc em trong cơn biến động,
Để tháng năm hai đứa lạnh lùng,
Để đêm ngàу kẻ nhớ người mong.
Khổ đau cao như mâу tím
Phố năm xưa Huế buồn buồn thêm,
Nhỏ уêu ơi, biết đâu mà tìm?!


Tái bút
2018-04-30

Hôm nay "tình cờ" nghe lại một bài về Huế, Hà Thanh hát, âm thanh tan nát cõi lòng, và những bóng hình xưa lũ lượt bay về...

Tái bút
2025-08-21 22:40



Tái bút
2025-08-24 18:21