Monday, March 9, 2020

vườn Luxembourg





Lễ Giáng Sinh tìm quà tặng, thấy cuốn sách có bức tranh vẽ hàng ghế trống trong vườn Luxembourg. 
Vườn Luxembourg mùa nào cũng đẹp.
Mùa thu lá vàng trong nắng.
Và mùa đông, với những hàng ghế trống ngổn ngang. 


traduction (pour Ludivine et Léo) :


photo @luongnguyen (Texas, USA)










Noël, en cherchant des cadeaux dans une grande librairie, j'ai trouvé un livre avec un dessin 
Une rangée de chaises vides en zigzag dans la grande allée du Jardin de Luxembourg
Le Jardin de Luxembourg est joli en toutes saisons
L' automne, avec ses feuilles mortes sous le soleil
Et l'hiver, dans la grande allée, des rangées de chaises vides en zigzag 





Sunday, March 1, 2020

gió lên rồi



Câu nói vụt dậy trong lòng khi vừa xem xong cuốn phim hoạt họa của Hayao Miyazaki.

Một chuyện tình trai tài gái sắc bên nước Nhật, giữa thiên tai động đất và chiến tranh khốc liệt những năm 1920.

Giấc mơ một đời của kĩ sư Jirô Horikoshi là sáng tạo một chiếc máy bay phi thường cho hàng không Nhật thời bấy giờ. Và sống hạnh phúc êm đềm bên nàng Nahoko Satomi khả ái.


Chính ngày chiếc phi cơ của Jirô đem bay thử lần đầu, thành công rực rỡ, thì Nahoko quyết định bỏ căn nhà nơi hai người chung sống, và trở về dưỡng viện  dành cho những người mắc bệnh lao phổi (sanatorium). 

Nàng muốn để lại cho người yêu những hình ảnh đẹp của mình trước khi từ giã cõi đời.

Ngày đầu tiên hai người gặp gỡ, trên một chuyến xe lửa, Naboko vụt đọc câu thơ của Paul Valéry (Le Cimetière marin) khi Jirô đến nhận lại chiếc mũ của chàng bị gió tung bay: " Le vent se lève... ", và Jirô tiếp theo ngay: " ... il faut tenter de vivre ! "

Gió lên rồi. Không, ta phải sống!





Phụ lục

(1)

"Gió lên, gió nữa lên!..." là câu nói trong bài Nhặt lá bàng, trích từ lời tựa trong cuốn tiểu thuyết Đôi bạn của Nhất Linh. Bài này tôi học lần đầu năm đệ Thất (lớp Bảy bây giờ) mà còn nhớ mãi. Bài viết nói về hai đứa con nhà nghèo ở Hà Nội, mùa đông giá rét mà ban đêm phải đi nhặt từng chiếc lá bàng đem về bán cho người ta đốt lò sưởi:

"Gió lên... lạy giời gió nữa lên. (...) Rồi chúng lại về ngồi chỗ cũ, mỗi đứa một gốc bàng, cho "khuất gió", khuất những cơn gió làm cho chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi lên."





(2)

"Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. (...)
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp. (...)
Chồng hỏi vợ:
— Mình liệu bơi được đến bờ không?
Vợ quả quyết:
— Được!
—Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng!
— Được! Mặc em!
Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
— Thế nào?
— Được! Mặc em!
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
—Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi:
— Có bơi được nữa không?
— Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
— Em buông ra cho mình vào nhé?
Chồng cười:
— Không! Cùng chết cả.
Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi:
— Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không?
— Không!... Sao?
— Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc run run khẽ nói:
— Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ."
(Trích Anh phải sống, Khái Hưng)












Friday, February 21, 2020

những con vịt ở Sapa


Hôm qua loay hoay xem lại cái PC Windows cũ, tình cờ gặp một tấm hình, chụp ở Sapa, chín năm về trước (2010).

Chỉ là mấy con vịt, nằm hoặc đứng, ngổn ngang bên cạnh một vũng nước đất đỏ.

Vậy mà trong lòng bỗng nhói lên một niềm áo não lạ thường.


photo @dtk 2010














Y hệt như nỗi lòng ngày hôm đó, lúc đi ngang qua vũng nước, chụp tấm hình này.

Hôm đó, vừa bước xuống xe car, đoàn du khách đến thăm một ngôi làng thuộc vùng núi Sapa (Bắc Việt), đã bị gần hai chục người Yao bao vây tức khắc. Toàn là phụ nữ, phần lớn tuổi không quá 30 — đầu chít khăn, thân mặc áo đen, thêu chỉ màu sặc sỡ.

Riêng nhà tôi đã có hai ba người Yao theo bén gót, suốt mấy giờ đi bộ thăm làng. Ai bảo người Yao chậm tiến? Trên tay mỗi người đều có một máy điện thoại di động. Họ vừa đi vừa nói chuyện huyên thiên. Đại khái cứ nài nỉ không ngừng, xin nhà tôi nhận lời mua mấy món hàng "lưu niệm" địa phương: túi thêu, khăn choàng... Mấy món hàng này, thực ra ở đâu cũng thấy. Và chắc chắn sản xuất từ một xưởng máy nào đó bên Trung Quốc mà thôi.

Lối vào làng là một con đường đất đỏ, rộng chừng mười thước, dài khoảng gần cây số, dốc thoai thoải, vài khúc quanh không gắt lắm. Đoạn đầu, ven đường là những cánh đồng, mái tranh thưa thớt, sợi khói nhạt nhòa, xa xa chỉ thấy một trẻ mục đồng dẫn trâu chậm rãi.

Vào đến trong làng, rải rác vài cửa tiệm mái tôn, bày bán dăm thứ rau cỏ, kẹo bánh..., và hai ba người ngồi ngáp. Hình như tiệm chỉ rộn ràng lên khi có khách du lịch vào thăm. Không biết ai bảo, nhà tôi cũng bắt chước mua bánh kẹo, phân phát cho mấy đứa trẻ con, tranh nhau ồn ào mười phút.

Dọc đường làng, đây đó một mái tranh hoặc lợp tôn đen đủi, trước cửa, một đứa bé, cầm túi nylon, nhìn ngơ ngác. Chúng tôi ghé thăm một căn nhà, mà người hướng dẫn bảo là truyền thống ở đây. Trong nhà tối om, nhìn kĩ phòng bếp, lổng chổng vài cái bếp đất, mấy cái nồi ngổn ngang, trên tường lủng lẳng mấy cột giấy đề chữ Hán. Ra vườn sau, có một giàn bầu, lá vàng. 


Trên đường, trước sân một căn nhà, có hàng dây thép phơi một dải khăn dài, màu xanh thẫm nước biển. Có lẽ ở đây, người ta dệt vải nhuộm chàm chăng?

Đi một quãng nữa, chợt thấy một vũng nước và mấy con vịt đã chụp trong hình ở trên. Đất đỏ quánh, không cỏ xanh, bên cạnh là một tấm bạt nhựa xanh. 

Không hiểu sao, chụp tấm hình xong, tôi bỗng nhiên buồn bã muốn nẫu cả người.

Chợt liên tưởng tới tấm bảng sắt rỉ sét cắm bên vệ đường lúc vào làng. Khẩu hiệu: "Xóa đói, giảm nghèo". Trông cái vẻ rỉ sét, mặt sắt lồi lõm, sơn tróc màu quá nửa, thì cái bảng này đã có mặt ít nhất từ 30 năm trước.


photo @dtk 2010

Hôm nay, nhìn kĩ lại tấm hình mấy con vịt: những con mắt hạt dưa, đen xạm, không động đậy.

Trông con vịt nào cũng buồn như nhau!















Wednesday, February 19, 2020

buối sáng trong vườn cây


1. Bụi chuối

photo @dtk 2020
Mỗi lần đi dạo trong Jardin des Plantes, tôi đều ghé lại khu đất rộng —đối diện với cái Serre tropicale (1), thăm bụi chuối quanh năm trồng ở đây.

Bây giờ là mùa đông, mấy gốc đứng trơ vơ, hai tàu lá úa, rách rưới, phất phơ trước gió.

Ở đó nhìn một hồi lâu. Đầu rỗng tuếch, hay triền miên ý tưởng? Từ bao giờ, tôi cứ nhớ tới những tàu lá chuối xanh mơn mởn, xạc xào trong gió đồng quê?


Phúc Khê nguyên bản, 1868
Ba tiêu

Từ bén hơi xuân tốt lại thêm

Ðầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem

(Nguyễn Trãi)



2. Giàn bầu


photo @dtk 2020, Jardin des Plantes, Paris
Cách đây 20 năm, lần đầu tiên tôi trồng được một cây bầu ở xứ Pháp lạnh lẽo này.

Mùa hè năm đó, khi cây bầu vừa ra nụ, rồi mọc dây leo cuốn vô giàn tre, ngày nào tôi cũng ra xem. Nhà tôi bảo không được chỉ tay về phía nụ bầu, nếu không tụi nó thúi hết cho coi.

May quá, tôi còn giữ được một trái duy nhất, bụng to chừng 15 cm bề ngang. Tôi o bế nó gần hai tuần lễ, sau cùng quyết định gọt vỏ nấu canh với tôm khô. Như ngày xưa, còn nhỏ — mẹ tôi đã nấu cho ăn. § Cập nhật 2023/02/24: Trái bầu này, tôi thương nó lắm, trước khi ăn, tôi chụp được một tấm hình, đem gửi lên trang "Bách Thảo Trong Thi Ca
http://viet.gutenberg.free.fr/huediepchi/vPlants/benincasaHispida.html
— vừa  lên coi lại, vẫn còn xanh mơn mởn.

photo @dtk 2000

Mấy năm sau này, trong Vườn Bách Thảo Paris, người ta trồng được nhiều cây cỏ Việt Nam: nào tía tô, nào sả, và cả hoa sen...

Đi loanh quanh một hồi dưới giàn bầu cao — tưởng chừng lạc tới núi tiên, ngoài cửa bể Thần Phù.

"Nhưng Từ Thức, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay màu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
— Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu."

Lần đâu đọc tới đoạn văn trên (trong Truyền Kỳ Mạn Lục), tôi lấy làm ngạc nhiên về tâm tư của chàng Từ Thức. 

Ấy thế mà, hơn nửa đời người biền biệt, một hôm tôi cũng dắt díu về quê.

Hỡi ơi, lần nào cũng vậy, "vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thẩy đều không như trước nữa". Nhất là con người ta, không thể nào tưởng tượng được, mỗi lần càng thêm xa lạ, như không còn cùng là một loài chung một hành tinh. 

Tội nghiệp cho họ. Nếu tôi phải sống như họ trong thời kì ấy (từ 1975 cho tới bây giờ), thì cũng thế thôi. Nói theo Tô Thùy Yên, "Ta hóa thân thành vượn cổ sơ", cũng không khỏi oan ức cho loài khỉ rừng xanh.

Khi Từ Thức về tới làng cũ, mới hay một năm sống ở động tiên với Giáng Hương bằng 80 năm trần thế.

Hôm nay, đứng nhìn trái bầu già loang lổ trời xanh, tôi chỉ biết đọc lại hai câu thơ:

30 THÁNG 4
Xứ khổ thêm chi mùa thảm khốc
Hỡi ơi trời đã bỏ rơi dân

(Tô Thùy Yên)








Chú thích

(1) tức là ngôi nhà kính lớn chuyên trồng cây cỏ vùng nhiệt đới, như hoa lan (orchidées) chẳng hạn.





Phụ lục


GIÀN BẦU PARIS

:::Ỷ Lan Penelope Faulkner:::

Khu vườn cạnh xưởng in Quê Mẹ có giàn bầu nổi tiếng lắm. Người Pháp qua đường, các bà hàng xóm đi ngang, tay kẹp ổ bánh mì hoặc kéo xe đi chợ, bận rộn, gấp gáp cách mấy cũng phải dừng chân đứng lại. Họ thường ngước đầu nhìn liếc, vừa kinh ngạc, vừa chiêm ngưỡng.

Ngày theo ngày, lá bầu xanh biếc chạy vùn vụt trên khung giàn bằng tre, vượt tràn qua bức tường cũ kỹ, nứt nẻ, của nhà in. Bất ngờ hết sức !!

Nhà in Quê Mẹ ở nơi vùng ngoại ô Bắc Paris nghèo nàn. Đây là khu công xưởng, kỹ nghệ. Ống khói nhà máy mọc lên thay cây cỏ. Nhưng ngay giữa vùng bụi bặm, hẩm hiu này, một giàn bầu Việt Nam được dựng lên ngạo nghễ. Hoa bầu trắng năm cánh, thơm nhè nhẹ, gọi bướm tứ phương về, lá xanh to bản chạy đua cùng mặt trời…

Anh em trong tòa soạn nhớ nước nhớ nhà quá dựng lên giàn bầu với những khúc tre còn sót lại sau kỳ tổ chức Hội Chợ Tết ở rừng Vincennes, Paris. Các người dựng giàn đều là dân trí “thức” nên giàn bầu có vẻ buồn “ngủ” hơi nghiêng ngả, nhiều khi lung lay theo gió chiều. Nhưng chính sự yếu ớt này làm tăng duyên dáng, khiến ai cũng thương giàn bầu, mong manh như đời người, như một kiếp tha hương…

Mùa hè nóng nực, Ỷ Lan thích ngồi mơ mộng bên giàn bầu. Anh em trong tòa soạn cũng hay kê bàn cạnh đấy, ngồi viết bài cho mát. Trưa nay, Ỷ Lan bày đầy sách vở, giả bộ làm việc. Nhưng đầu óc đuổi theo tiếng máy chữ của anh Thi Vũ, lóc cóc như vó ngựa. Một vài khi, anh Thi Vũ viết bài trên máy đánh chữ. Anh nói rằng tiếng lóc cóc, và sự đề kháng của nốt máy nhấn, kìm hãm bớt dòng suy tưởng quá nhanh, quá cuồn cuộn như vũ bão trong đầu. Viết tay chảy quá, khó kìm.

Nhìn giàn bầu, nhớ câu ca dao :

Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Ỷ Lan nhớ tới những năm vừa qua sống “chung một giàn” với anh chị em Việt Nam, và cười thầm nhớ lại những ngày đầu tiên khi mới qua Pháp.

Thuở đó còn chiến tranh, Ỷ Lan chỉ tính tình nguyện bỏ một năm sang Pháp giúp “Hội Phật tử Việt kiều Hải ngoại” trong việc phổ biến tin tức và văn hóa Việt Nam cho thế giới thông cảm. Làm sao ngờ được, ngày ấy đã hoàn toàn thay đổi đời mình ? Và mình sẽ bị, hay được Việt Nam hóa, mình sẽ tìm ra một “Quê Mẹ” xa hẳn nơi chôn nhau cắt rốn ! !

Đến sống trong một không khí hoàn toàn xa lạ, Ỷ Lan vừa rán bập bẹ học tiếng Việt, vừa cố tìm hiểu và bắt chước sống theo tinh thần Đông phương.

Chướng ngại đầu tiên là cách ăn chén đũa ! Làm sao gắp cho được và bỏ vào miệng những cọng rau luộc, khuôn đậu rán, miếng cá hay miếng thịt nằm ngoan ngoãn trên dĩa trước mặt bàn ?? Ỷ Lan dùng đủ cách, đủ kế, nhưng bữa nào cũng thua cuộc Đâm thẳng tới, thì “chúng” nhảy đi chỗ khác như ếch nhái. Đâm lén, thì “chúng” vượt khỏi dĩa, bay thẳng vào chén người trước mặt !! Chó ngáp phải ruồi mà gắp được, đưa gần tới miệng, thì…”chúng” nhào xuống lại trong chén mình, làm nước canh bắn lên tung toé ! ! Vừa dơ áo, vừa làm bộ mặt quê mùa của mình đỏ như gấc!!

Khổ quá. Mấy ngày đầu đói meo, vẫn cắn răng không dám than. Do tự ái người Hồng Mao, nhất định không chịu thua, dù các bạn tội nghiệp đưa dao nỉa ra cứu. Vì vậy, sáng sáng Ỷ Lan thường uống cà phê sữa, ăn bánh mì thật no, chuẩn bị cho trận “đánh đũa” sắp tới !!

Ôi, mấy hột cơm làm mình ốm o, đau khổ ! Chúng xếp hàng cả ngày trong lòng chén xa xăm của mình, mà chẳng chịu làm ơn co giò nhảy vào miệng !! Thiệt bất công quá đi !! Sống trong xứ ăn cơm mà phải chịu đói.

Ngoài việc tranh đấu với chén đũa, Ỷ Lan chăm chỉ học tiếng Việt. Mỗi ngày mỗi chữ mới. Nhưng khi phát âm ra, chẳng ai hiểu mô tê chi cả !! Ỷ Lan xoay qua học cách phát âm tên từng người trong nhà.

Thuở ấy, người ra kẻ vào thường dùng chữ “đạo hữu” học khá dễ. Nhưng tên các vị Thượng tọa, Đại đức thì rắc rối lắm. Do sự đoán mò, và do một vị tu sĩ ưa khôi hài giải thích bậy, Ỷ Lan nghĩ rằng mỗi lần họ đi đâu đều “thích” đổi tên mới ! Ỷ Lan được giải thích rằng, chẳng hạn khi qua Pháp, họ phải lấy tên mới, nên mới gọi là “pháp danh” (tên ở Pháp). Có một vị tên là Thích Pháp Kiến rất dễ nhớ. Tên người ở Pháp lấy theo tên thánh không có nghĩa. Ở Việt Nam, mọi tên đều mang ý nghĩa. Có khi thơm tho, thơ mộng, như Quỳnh Hoa, Thu Ba, Mộng Tuyết… Có khi oai nghi hùng dũng, như Thiếu Dũng, Văn Hùng… Có khi mơ ước điều chưa có như Bạch Tuyết. . . Nhưng cũng có tên tuy đủ nghĩa nhưng không cần đẹp, như Đinh Năm Phân, Trần Văn Trụi, Bé Teo, Cu Tí… Hỏi nghĩa Pháp Kiến là gì, thầy Thế Tịnh giảng cho Ỷ Lan là “le fourmi français” (con kiến Pháp). Hồi đó còn dốt hơn bây giờ, Ỷ Lan tin ngay, thấy nhiều ý nghĩa nữa. Đầu thầy trọc và tròn, người béo, suốt ngày bận rộn chạy vô chạy ra các phòng như con kiến. Dù không thích kiến lắm, Ỷ Lan vẫn phục lòng từ bi không phân biệt chủng loại của đạo Phật, như con kiến của thầy Pháp Kiến. Theo lời giải thích của thầy Thế Tịnh, Ỷ Lan tưởng tượng rằng rồi đây khi thầy Pháp Kiến sang hoằng pháp các nước khác như Ý, Mỹ, Thái Lan, Mông Cổ… thầy sẽ phải đổi tên thành Thích Ý Kiến, Thích Mỹ Kiến, Thích Thái Kiến, Thích Mông Kiến ??! !

Thời đó là thời kỳ “khám phá” học hỏi nhiều nhất của Ỷ Lan. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư ! Ai dạy cho mình dù là nửa chữ vẫn là thầy của mình, nên Ỷ Lan có không biết bao nhiêu là thầy. Thầy hay, cũng như thầy bông lơn bậy bạ. Hèn chi người Việt có câu : “nhiều thầy thúi ma!” (Vậy khi chữ Việt của Ỷ Lan không được thơ mộng lắm, cũng xin Bạn đọc tha thứ cho !) Và sở dĩ Ỷ Lan hăm hở học hết cả chuyện đúng, chuyện sai, chuyện ngược, chuyện xuôi luôn, mà không biết phân biệt, là cũng vì nạn nhiều thầy dạy “nửa chữ” như thế.

Có một thầy học dạy Ỷ Lan chữ “đồng hồ”. Ông giải thích chữ “đồng” là kim loại dùng để làm đồng hồ thời xưa, và chữ “hồ” nghĩa là con chồn, chạy nhanh như thời gian. Và khi giảng chữ “huệ trí” trong truyện ngắn “Con thằn lằn chọn nghiệp” của nhà văn Hồ Hữu Tường, ông nói “huệ” là hoa huệ trắng, tên là hoa lys của Pháp; “trí” là trí tuệ, tinh thần. Huệ trí là trí tuệ trắng thơm như bông huệ. Về nhà khoe bài học mới với anh em trong tòa soạn, Ỷ Lan không hiểu vì sao ai cũng bật cười về “đồng hồ con chồn” và “bông huệ trắng” thơm tho của mình !!

Trưa nay, ngồi dưới giàn bầu mơ mộng chuyện thời xưa. Không phải chuyện thời xưa khi tóc còn để chỏm, mà “thời xưa” đã có tóc thề !! Vì “thời để chỏm mẫu giáo”, Ỷ Lan “ham chơi” đi học tiếng Anh, tới khi lớn mới bắt qua tiếng Việt !!! Nhưng thà trễ còn hơn không, phải không các bạn ?

Xung quanh vườn im lặng như tờ. Sao không còn nghe tiếng máy chữ lóc cóc của anh Thi Vũ . Nhìn lên, thấy anh cười ngạo, tay chỉ bàn viết của Ỷ Lan. Liếc xuống bàn, một chồng sách báo và tự vị bày ra “dọa” thiên hạ, chứ chẳng viết lách chi được. Nãy giờ Ỷ Lan chỉ lách, chứ chưa viết. Và suốt những giờ thả hồn mơ mộng, giấu mình sau chồng sách, một giây “râu” bầu đã vểnh ra, cuốn vòng quanh cây bút còn cầm trên tay như cuốn “lò xo”. Râu bầu là nụ cười nhếch mép của thiên nhiên đang vạch trần “âm mưu” không chịu làm việc của mình !!

Ỷ Lan càng hiểu thêm sâu sắc câu ca dao Việt :

Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn !

Tự thấy đời mình cuốn ốc “chung giàn” với người Việt . Ngày càng buộc chặt. Ngày càng vươn cao. Ngày càng đi xa, đi chung mãi mãi về phương trời quê mẹ.

Tiếng cười của anh Thi Vũ làm rung rinh đàn bướm trắng đang ngủ trưa trên những nụ hoa bầu. Bướm tung tăng bay dưới nền trời Paris xanh ngắt. Ai biết đâu những con bướm ấy lại không đến từ một giàn bầu xa lắc ở một khu vườn trên đất nước Việt Nam. Bướm tới đây thầm thì kể chuyện nước non với giàn bầu hải ngoại xanh biếc mọc cao giữa Paris tự do.

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/12/27/que-nha-gian-bầu-paris/
















Monday, February 3, 2020

áo trắng





Tối hôm qua, đọc một bài viết của Thi Vũ trên trang web Gió O (*), được xem lại một bức tranh của Tô Ngọc Vân, lòng mãi bồi hồi.

Bức tranh này, tôi đã xem từ hồi còn học lớp ba ở trường tiểu học Di Chuyển Đa Kao (sau đổi tên là Đinh Tiên Hoàng). Bức tranh đăng trên tờ chuyên san về kiến trúc "Sáng Dội Miền Nam" của  Võ Đức Diên. Tôi xem và ngẩn ngơ từ ấy đến giờ.

Hồi đó, khoảng năm 1957, đôi lần tôi theo đứa bạn học cùng lớp đến nhà nó ở đường Hiền Vương, gần góc đường Nguyễn Phi Khanh và rạp chiếu bóng Đa Kao, quận Nhất. Cha nó là kiến trúc sư Võ Đức Diên. Trong nhà rất rộng và trang trí rất Tây phương. Chúng tôi thỉnh thoảng đi chơi đá banh bàn, vui không thể tả, trong mấy tiệm bán cà phê, trên đường về nhà. Chính trên đường Nguyễn Phi Khanh này, một ngày giáp Tết, tôi đã đứng mê hồn trước một cội mai vàng nở rộ trong vườn một ngôi biệt thự. Và từ đó, mỗi độ Xuân về, ở bất kì nơi nào trên Trái đất, tôi chỉ nhớ đến cây mai vàng này thôi.



Ghi chú

(*) http://www.gio-o.com THI VŨ
HAI BỨC TRANH TÔ NGỌC VÂN
MỘT NÉT VẼ HỒN THIÊNG

tản mạn









Monday, November 11, 2019

người đi đâu


"Người đi đâu sông nước lạnh vô cùng"

Câu thơ rớt vào hồn giữa một ngày hè oi ả.

Ồ, ông Bùi Giáng nói chi lạ rứa? Sao mà đúng hệt tâm trạng tôi từ bấy lâu nay.

Bấy lâu nay? Đã gần một đời người rồi còn gì!

"Bàn chân bước người đi về một thuở
Lá phân vân bờ bến cát sương rung
Trời khuya khoắt phiêu du trăng bỡ ngỡ
Người đi đâu sông nước lạnh vô cùng"

Một thuở nào? Thuở xưa. Như "thời nhỏ" trong câu thơ Ninh Chữ:

"Con chim thời nhỏ bay ngang rồi"

Đi đâu nhỉ?

Quá nửa đời người quanh trái đất
Tìm em đã chín trái sầu đâu

Em nào đó?

"Bóng trắng xa bay về em có thấy
Cuối phương ngàn rừng núi mộng trong sương
Dòng sông đục dòng sông xưa sóng dậy
Nghe triền miên nức nở lệ lên đường"

Đâu là "núi mộng", "sương rừng", "trăng bỡ ngỡ"...

Tại sao người ta làm thơ?

Thưa là để an ủy tâm hồn. Tâm hồn thi sĩ và tâm hồn chúng sinh.

Tan nát vì tình. Tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước quê hương...

Tôi bỗng giật mình khi đọc tới hai câu thơ sau của Bùi Giáng:

"Đồng ruộng cũ màu trôi trong cỏ nhặt
Dưới bình minh rạ xám gốc trơ phơi"

Mùa xuân năm ấy, tôi theo mẹ đi chuyến xe đò Sài Gòn - Bình Dương đến thăm anh tôi đóng quân ở Sư đoàn 5 Vùng 3 chiến thuật. Quốc lộ 13 nắng rát, ngoằn ngoèo như thân rắn. Ruộng đồng hai bên khô cằn, nứt nẻ, trơ gốc rạ. Dấu vết làng mạc là nhưng túp lều tranh ở cuối xa xa. Màu vàng ruộng đồng bây giờ là màu lửa cháy xém chứ không phải là màu lúa chín mênh mông. Và những ngôi làng thiếu những bụi tre um tùm bao bọc.

"Trời vi vút én liệng vòng hớt hải
Đi đi em nguồn dậy mộng chiêm bao
Về thao thức canh chầy tìm trở lại
Bốn chân trời người đứng ở nơi nao"

"Trời vi vút én liệng vòng hớt hải": Mùa xuân 1975, tôi bàng hoàng nhìn những chiếc trực thăng vỗ cánh sầm sập trên sân thượng tòa Đại sứ Mĩ ở Sài Gòn. Hàng trăm người dân tranh nhau bám vào chân thang máy bay di tản.

"Màu con mắt bên màu xuân xiêu đổ
Ở bên kia nhìn trở lại bên này
Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay..."

"Mùa xuân xiêu đổ": Bùi Giáng đã linh cảm mùa xuân ấy, mùa xuân (1975) đen tối nhất, sau cuộc cách mạng mùa thu (1945).

Hình như nhà thơ còn gởi lại chúng ta niềm tin vào một ngày mai tươi sáng: "Bụi thu mờ ai phủi với hai tay."



Phụ lục

người đi đâu



Tác giả: Bùi Giáng (1926-1998)

Bàn chân bước người đi về một thuở
Lá phân vân bờ bến cát sương rung
Trời khuya khoắt phiêu du trăng bỡ ngỡ
Người đi đâu sông nước lạnh vô cùng

Bóng trắng xa bay về em có thấy
Cuối phương ngàn rừng núi mộng trong sương
Dòng sông đục dòng sông xưa sóng dậy
Nghe triền miên nức nở lệ lên đường

Một tiếng nói, một nụ cười chợt tắt
Hết mấy phen buồn trở lại bên đời
Đồng ruộng cũ màu trôi trong cỏ nhặt
Dưới bình minh rạ xám gốc trơ phơi

Trời vi vút én liệng vòng hớt hải
Đi đi em nguồn dậy mộng chiêm bao
Về thao thức canh chầy tìm trở lại
Bốn chân trời người đứng ở nơi nao

Màu con mắt bên màu xuân xiêu đổ
Ở bên kia nhìn trở lại bên này
Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay...















Saturday, November 2, 2019

trí khôn nhân tạo

Hôm nọ, viết trang blog "big data", tôi đã tò mò tìm xem "artificial intelligence", trong tiếng Việt bây giờ gọi làm sao. 

Anh bạn HA@huediepchi.com mới nhắc là "trí tuệ nhân tạo" (1). 
Người Tàu dịch là: "nhân công trí năng 人工智能" (2).

Ờ, ờ... đứng riêng về mặt ngôn ngữ, dịch "intelligence" thành "trí tuệ", "trí năng", ..., thì cũng chẳng có gì phải nói.

Tuy nhiên, cứ nhớ tới những câu "đao to búa lớn" nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa nhai nhải từ mấy chục năm nay, theo kiểu "đỉnh cao trí tuệ" chẳng hạn, lại chỉ muốn văng tục!


Cách đây ba chục năm, kĩ thuật "artificial intelligence" còn ở thời kì phôi thai, nhân đang tập viết lí trình (software, logiciel) bằng ngôn ngữ điện toán mới ra đời lúc đó, chuyên về "artificial intelligence" (ngôn ngữ Prolog của trường Đại Học Edinburgh) và đúng khi vừa đọc qua một truyện cổ tích Việt Nam (trong bộ "Raconte-moi des histoires" dành cho học sinh tiểu học) (4) (5), tôi mới nảy ra ý đề nghị dịch "artificial intelligence" là "túi khôn nhân tạo".

Truyện kể đại khái về nguồn gốc tại sao con cọp lại có vằn đen trên lưng vàng. Xin tóm lược như sau:

Một hôm, ngài chúa sơn lâm, đi ra ngoài rừng, mon men đến một bờ ruộng. Cọp lại gần một con trâu đang nằm nghỉ trưa, miệng ngẫm nghĩ nhai lại bữa ăn chưa tiêu hóa xong:
— Này bác trâu, trông bác to lớn bệ vệ thế, mà sao lại chịu cho cái thằng người nhà quê bé choắt sai bảo làm lụng cực nhọc như vậy?
Con trâu nuốt vô bụng mớ cỏ đã nhuyễn, vừa cười vừa chậm rãi trả lời cọp:
— Hì hì, vâng, bác nói phải lắm. Có điều thằng người bé con như thế, nhưng nó có cái Khôn, bác ạ!
— Cái khôn gì, khôn liềng vậy hả?
— Vâng, cái Khôn của hắn lợi hại lắm. Chẳng riêng gì tôi, mà các loài vật khác, đều chịu lép một bề cả.
Cọp ta lấy làm lạ, bèn bảo trâu về xin với chủ nó cho gặp mặt cọp hôm sau. Cọp thầm nghĩ rằng sẽ tìm cách lấy cho bằng được cái Khôn gì đó của người nhà quê.
Hôm sau, cọp đợi sẵn bác nông phu bên bờ ruộng. Lúc người nhà quê vừa bước tới, cọp đã vội vàng lên tiếng:
— Này ông làm ruộng, ông có thể cho tôi xin một chút "cái khôn gì đó" hay không?
Người nhà quê trả lời:
— Ồ, có gì đâu. Chỉ là tôi không có sẵn đây, chứ nào tôi có tiếc gì với bác Hổ.
— Làm sao bây giờ?
Người nông phu mới nói:
— Vâng, tôi sẵn sàng về nhà lấy túi Khôn chia lại cho bác. Nhưng chỉ e bác ở đây ăn thịt con trâu của tôi, thì tôi còn gì làm ăn sinh sống nữa?
Con cọp mừng quá, nói:
— Ồ, không sao đâu. Bác cứ buộc tôi vào gốc cây kia. Tôi đợi ở đấy, không thèm ăn thịt con trâu của bác đâu mà sợ.
Người nhà quê liền mở ra một cuộn dây thừng, trói chặt con hổ vào gốc cây, xong xuôi mới nói:
— Hà hà. Cái túi khôn của tôi đây.
Bác nông phu nắm một bó rơm, dí vào mình cọp châm lửa đốt cháy từ đầu tới đuôi.
Thương thay, con cọp bị nóng bỏng, gầm thét vang dội cả khu rừng. Sau cùng, nó vùng lên, bứt đứt hết cả cuộn thừng còn cháy dở, chạy một mạch vô rừng thẳm.
Con trâu xem cảnh tượng hổ ta khốn khổ như vậy, bò lăn ra đất mà cười, đến nỗi đập mũi vào một khối đá lớn, bẹp dí cái mũi, như người ta còn thấy dấu vết cho tới ngày nay.
https://chantecler18.wordpress.com/2013/05/29/le-buffle-le-tigre-et-lintelligence/
Riêng cọp ta, bị một trận kinh hồn lạc phách, toàn thân cháy xém. Đấy là nguyên do tại sao ngày nay, con hổ vẫn còn mang vằn đen trên mình vàng. Vằn đen là vết tích của cuộn thừng cháy dở đấy các bạn ạ.

Nhân đọc truyện cổ tích này, tôi thấy hai chữ "túi khôn" rất hợp với ý "artificial intelligence" ngày nay. Tục ngữ Việt Nam còn có câu "đi một ngày đàng học một sàng khôn". "Túi khôn" và "sàng khôn", ý nghĩa tương đương. Tuy nhiên, hôm nay nghĩ lại, thấy cái "túi" có vẻ mộc mạc vật chất quá, đổi là "trí khôn nhân tạo" có lẽ hay hơn.

Trong cuốn sách "21 bài học cho thế kỉ XXI" (6), nhà tư tưởng Yuval Noah Harari cho rằng tương lai loài người trong vũ trụ ngày càng chịu sự khống chế hoàn toàn của kĩ thuật sinh học và kĩ thuật tin học (tiếng Pháp: biotech, infotech).

Mà "artificial intelligence" là gì, nếu không phải là sự ứng dụng kĩ thuật điện toán viết quy tính (tiếng Pháp: algorithme)  kết hợp với khả năng tích trữ các dữ kiện khổng lồ (big data), càng ngày càng hiệu quả.

Trong khi đó, "đỉnh cao trí tuệ" là cái củ chi, mà nhân dân vẫn mãi sống trong vòng ngu tối, mất hết tự do, chẳng biết gì tới dân chủ, kinh tế thụt lùi, giáo dục đổ vỡ tan hoang?




Chú thích
(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Trí_tuệ_nhân_tạo
(2) https://zh.wikipedia.org/wiki/人工智能
(3) https://ja.wikipedia.org/wiki/人工知能
(4) https://chantecler18.wordpress.com/2013/05/29/le-buffle-le-tigre-et-lintelligence/
(5) https://m.youtube.com/watch?v=IKppEEXIo4M
(6) 21 Lessons for the 21st Century, Yuval Noah Harari.





Tuesday, October 15, 2019

để nhớ Tô Thùy Yên



Chia tay ải Tây

Tặng Thanh Tâm Tuyền

Mới độ nào chia tay ải Tây.
Đi đâu hay chỉ cốt rời đây?
Mây trôi, dăm mảng nhớ hư hoặc,
Gom chẳng thành câu chuyện thuận tai.

Lời kiệm, quanh ba cái ý quẩn,
Tiễn đưa vừa một quãng mây bay.
Ra về, thấy nhật nguyệt điên đảo,
Ray rứt chưa tròn hẹn ải Tây.

Có thật từng chia tay ải Tây?
Mây qua để bóng cổ thư này.
Tuyệt cùng ký ức như nơi tới,
Tin tức ngàn thu biết hỏi ai?

Bao nhiêu đống lửa đêm quan ngoại,
Gió thổi tan tro mỗi sáng ngày?
Trong trời, mây ấy cũ hay mới?
Ải Tây, lần nữa, lại chia tay.

Mãi mãi còn chia tay ải Tây.
Ngày ngày mây lãng đãng qua đây.
Cõi đời giấu một phía mê tưởng,
Đi nép ranh, mường tượng ải Tây.

1-2000

Nguồn: Tô Thùy Yên, Thắp tạ, An Tiêm xuất bản, Houston 2004


https://www.bbc.com/vietnamese
Đọc bài này, không khỏi liên tưởng tới bài Vị Thành khúc của Vương Duy:

勸君更盡一杯酒
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
西出陽關無故人
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân 

Thơ Vương Duy buồn, nhưng có cái lãng mạn đằm thắm của tình bạn. 

Trong khi cả bài thơ của Tô Thùy Yên (tặng cho bạn mình là Thanh Tâm Tuyền) toàn là những câu ngắc ngứ khúc khuỷu. 

Hai hoàn cảnh khác nhau, một trời một vực.

Gần 20 năm sau (kể từ thời điểm sáng tác), 40 năm sau (kể từ ngày chia tay với Thanh Tâm Tuyền), nỗi lòng u uất của Tô Thùy Yên vẫn còn ray rứt khôn nguôi:

Mãi mãi còn chia tay ải Tây,
Ngày ngày mây lãng đãng qua đây.
Cõi đời giấu một phía mê tưởng,
Đi nép ranh, mường tượng ải Tây.


ĐTK (2019/10/15-2005/11/19)

Ghi chú 2019/10/16
trả lời cho bạn HA@huediepchi.

Ải Tây, tôi nghĩ là do câu "Tây xuất Dương Quan vô cố nhân" của Vương Duy.
Bài thơ của Tô Thùy Yên có lẽ nhắc đến lần chia tay với Thanh Tâm Tuyền. Hai người cùng trên đường lưu đày cải tạo (1975-1983).
Tôi gặp Tô Thùy Yên một lần tháng 11/2005, ông ấy kí tặng tập thơ Thắp tạ. 
Bây giờ đọc lại bài Chia tay ải Tây, thật vô cùng cảm khái. Và đau lòng cho bao nhân tài Việt Nam bị đày đọa đã gần 1 thế kỉ rồi.



Thursday, April 18, 2019

con ngỗng


Con ngỗng ấy, hai đứa con anh chị Thông đặt tên là Tokata. Cái tên Tokata hình như là tên một con ngỗng nổi tiếng trong bộ phim hoạt họa dành cho trẻ em trên đài truyền hình lúc bấy giờ.

Hôm ấy, anh chị Thông bàn với vợ chồng tôi, phải lấy quyết định về việc con ngỗng này. Ai cũng thương nó lắm, nhất là đám trẻ con bốn đứa của hai gia đình. Nhưng con ngỗng đã lớn quá rồi, biết đem đi đâu, đành phải làm thịt chứ sao bây giờ.

Anh Thông chủ nhà, lại có phần dạn tay, lãnh nhiệm vụ cắt tiết, còn tôi phụ giữ cánh ngỗng.  Thế là hai người lặng lẽ ra vườn bắt con ngỗng đem vô nhà để xe, nhân lúc mấy đứa trẻ con đang chơi đùa chỗ khác.

Vụt hai kỉ niệm thời thơ ấu bay về trong trí nhớ. Một lần cha tôi sửa soạn làm tiết canh vịt. Ngâm con vịt vô thau nước nóng (cho dễ lột lông), lúc cha tôi vừa cứa cổ nó, thì vuột tay, nó vùng lên chạy vụt ra đường, kêu oác oác inh ỏi cả xóm. Mấy người phải đuổi theo, rất khó khăn mới chụp được bắt nó về nhà. Một lần khác, anh tôi được giao cho phận sự cắt cổ một con vịt khác. Tôi bị chỉ định cầm cánh vịt. Anh tôi còn hơi vụng về, cứa tới cứa lui. Còn tôi hai tay ghì chặt hai cánh con vịt. Một hồi lâu, lúc buông tay ra, thì cổ vịt chưa đứt, nhưng nó nằm đơ ra — vì ngạt thở.

Anh Thông và tôi hì hục một lúc, rồi cũng xong. Tôi nhớ tối hôm đó, được ăn một bữa cháo ngỗng thiệt là ngon. Sau đó nhiều tuần, anh Thông còn kể họ đem thịt ngỗng làm dồi, làm chả... ăn mấy bữa chưa hết.

nguồn: Internet

Tại sao hôm nay tôi lại nhớ lại chuyện giết vịt và ngỗng này?

Số là từ tối hôm qua, duyệt đọc Phật Quang Đại Từ Điển, tới mục từ "nga châu" (con ngỗng nuốt hạt châu), rồi cả đêm suy nghĩ miên man cho đến sáng, vừa mới kiểm lại xong hai cột văn Hán Việt đối chiếu, từng chữ một. Từ hơn một năm nay, chăm chỉ dò lại từng trang bộ từ điển, mỗi lần vẫn cứ ngạc nhiên về công phu dịch thuật của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Nhưng hôm nay, là chuyện khác.

Trích lại dưới đây nguyên bản dịch mục từ nga châu [鵝珠] (con ngỗng nuốt hạt châu) (*):

    Cứ theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận quyển 11, xưa kia, có một vị tỉ khưu khất thực đến trước nhà người thợ xâu ngọc, lúc đó người thợ đang xâu ngọc ma-ni cho nhà vua, thấy vị tỉ khưu đến, người thợ liền để viên ngọc xuống và vào nhà lấy thức ăn cúng dường. Khi ấy, có một con ngỗng đến nuốt mất viên ngọc, lúc người thợ trở ra không thấy viên ngọc liền ngờ và tra hỏi vị tỉ khưu; vị tỉ khưu tự nghĩ: “Nếu mình nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết, như vậy mình đã phạm giới sát sinh, còn nếu nói không đúng thì phạm giới vọng ngữ, thôi, im lặng là hơn.” Thấy vị tỉ khưu không nói người thợ càng thêm nghi ngờ, liền trói vị tỉ khưu lại và dùng gậy đánh đập đến nỗi tai, mắt, miệng, mũi đều ra máu. Con ngỗng lúc nãy thấy máu liền đến ăn, bị người thợ ngọc tức giận đánh chết. Vị tỉ khưu trông thấy thương xót buồn rầu và nói kệ rằng:
    “Xưa có vị Bồ tát
    Bỏ mình cứu bồ câu
    Nay tôi cũng làm theo
    Xả thân để cứu ngỗng
    Vì có lòng thương xót
    Muốn bảo toàn mệnh ngỗng
    Giờ ông đã giết ngỗng
    Tâm nguyện tôi chẳng thành.”
    (Đại 4, 320 hạ).
    Bấy giờ, người thợ ngọc mổ bụng ngỗng, thấy viên ngọc trong đó, liền òa lên khóc và nói:“Ngài muốn cứu mệnh sống của ngỗng mà không tiếc thân mình, khiến tôi làm việc bất nhân này!”
    [X. Kinh Luật Dị Tướng Q.14].


Ồ, thế là truyền thống nhà sư khất thực hẳn đã lâu đời. Xã hội Ấn Độ thời đó có vẻ còn thô sơ lắm. Một người thợ ngọc xâu ngọc cho nhà vua, mà có cả con ngỗng vào tới cửa tiệm, không khỏi buồn cười.  Nhà sư nọ có vẻ rất từ bi và can đảm.  Biết noi gương người trước thí mạng mình để mong cứu sống một con ngỗng. Mà sao thời đó, một anh thợ ngọc, cũng là một Phật tử, lại cả gan đánh hộc máu mồm một tỉ khưu!

May mà anh ta còn biết hối cải, khóc lóc, nhận lỗi minh đã làm việc bất nhân.


Tham khảo













Thursday, March 21, 2019

Vũ Hoàng Chương


Năm đó tôi còn nhỏ, chỉ biết ăn và học, sợ cha kính thầy. Đùng một hôm, lớp học bỗng nhốn nháo, ồn lên. Ông thầy khả kính hôm qua, mặt xám xanh — vì giận? vì sợ? —, bất lực không giữ nổi kỉ luật cho đám học tròn non! Học sinh đổ ra ngoài. Tôi chen lấn đọc bài thơ viết phấn màu trên một tấm bảng đen dựng trước cổng trường, kí tên tác giả Vũ Hoàng Chương. Bài thơ nói về lửa, tôi chẳng hiểu chi nhiều, nhưng biết đó là một thi sĩ lớn... Tôi thấy tôi đứng giẫm chân lên một bàn học, ngó một nhà sư trẻ viết hai câu thơ chữ Hán lên bảng. Một người bước lên bục, viết tiếp hai câu thơ chữ Hán thành một bài tứ tuyệt, buông phấn cười... Da mặt trắng xanh, thân khoác một áo veste màu ngà, gầy như như một cành thu. Tôi vốn phục người xưa "xuất khẩu thành thi", nay được thấy tận mắt có người "xổ thơ" như thế, thích chí quá. Người ta nói: "Vũ Hoàng Chương đó!". Chính biến 1963 vừa bùng nổ. Phật giáo xuống đường... 

Bẵng đi ít năm sau, ông thầy Việt văn lớp tôi lại chính là nhà thơ đó. Không hiểu sao, tôi nhớ mãi lời giảng của thầy về hai cặp chữ "phong trào" và "hi sinh". Phong là gió, trào là sóng, cái gì đó dâng cao rồi lắng xuống, như thời thượng, thời trang. Hi sinh là như những con dê bị thọc huyết thí mạng trên bàn lễ tế thần. Tôi còn nhớ học được ở thầy hai câu ca dao: 
Làm trai biết đánh tổ tôm, 
Uông trà Mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều. 

Tổ tôm, tôi không biết chơi làm sao. Đến nay, tôi cũng chưa biết hương vị trà Mạn hảo. Còn truyện Kiều, hồi đó bị bắt buộc học, tôi ngán như cơm nếp nát. 

Một lần, đề luận ra phải bình giải bài từ khúc "Tống biệt" của Tản Đà: 
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai 
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi 
 Nửa năm tiên cảnh 
Một bước trần ai... 

Tôi cặm cụi chắp đầu chắp đuôi viết cho đủ bốn trang giấy học trò. Thầy chỉ khoanh vòng một câu viết ngắn trong bài "người đọc cảm thấy một nỗi buồn man mác..." và cho 12 điểm. Số điểm khá tốt cho một bài văn. 

Trong lớp học, học trò chen chúc như trong một cái chợ con, con gái học để đi kiếm cơm, con trai học để khoan đi lính. Đôi khi, tôi có cảm tưởng chỉ có mình tôi nghe giảng, thấy thương thầy vô hạn. 

Dần dà, tôi đọc thơ Vũ Hoàng Chương và say mê những bản tình ca hoài Tố: 
Em ơi, lửa tắt bình khô rượu 
Đời vắng em rồi, say với ai? 

Đôi khi cao hứng, tôi nghêu ngao mấy câu thơ này: 
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa 
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh 
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị 
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh 

Tôi cũng ưa nhưng câu rất lạ như: 
Ta có là Ta chăng? 
Hề, Ai chứ là Ngươi... 


Sau năm 1975, được tin Vũ Hoàng Chương chết trong tù, tôi hiểu thế nào là kẻ Sĩ. 

Ở xứ người, còn chăng là vài câu thơ đơn giản của Vũ rớt lại trong hồn: 
Ba kiếp lang thang ngồi chụm lại 
Chúng ta mất hết chỉ còn nhau 

Cuối năm, tình cờ đọc hai chữ tưởng niệm, tôi bỗng nhớ người thầy thi sĩ. Vũ của Hoàng ơi, Tố ở đâu? 


ĐTK 
Paris, 05/01/1994 



bổ túc
ed. 2023-05-24

1. Mai Thảo, Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương, trong tập Chân Dung, NXB Văn Khoa 1985:
(...) Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối của thi sĩ, không ai có được những chi tiết đầy đủ. Kể cả chị Đinh Hùng, chị Vũ Hoàng Chương, cháu Vũ Hoàng Tuân, cháu Đinh Hoài Ngọc, những người đêm ngày ở cạnh chỗ nằm của ông suốt 5 ngày hấp hối. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, thần trí Vũ Hoàng Chương vẫn cực kỳ minh mẫn sáng suốt. Tới đêm lâm chung. Tới phút từ trần. Nhưng thi sĩ không nói, không nói một lời nào về bốn tháng Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Tưởng ông đi, chị Vũ Hoàng Chương lớn tiếng kêu khóc. Ông dịu dàng: “Tôi còn sống đây.” Rồi nói đùa: “Bị bắt vẫn còn oai. Được thủ tướng hầu hạ.” Thủ tướng đây là bác sĩ Phan Huy Quát, ở cạnh phòng ông, phòng tối số 6. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại đau đớn hết một lúc. Thấy vậy chị Vũ Hoàng Chương lo lắng hỏi: “Ở trong ngục anh có bị chúng hành hạ gì không?” Ông trả lời: “Chúng cần gì hành hạ. Chỉ bỏ đói là đủ cho mình chết.” Vậy thôi. Ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, Gác Bút yên tĩnh với thi sĩ nằm đó, trên mặt sàn hiu quạnh. Rồi ngày hết, đêm xuống. Và định mệnh mở rộng cánh tay như một lớp sóng mênh mông vô tận đón ông vào đời đời lúc đó là vừa đúng 12 giờ đêm…!

2. Bài thơ Trong Khám Chí Hòa của Vũ Hoàng Chương vào năm 1976:
“Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
Đêm về giấc ngủ lại thương con.
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
Hồ dễ gì phai được tấc son!”

3. Ngâm thơ "Phương Xa" của Vũ Hoàng Chương

tham khảo

Vương Trùng Dương